Giới thiệu sách tháng 12 - Trường Tiểu học Ngọc Châu
con chim tron tuyet

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Vân
Ngày gửi: 20h:40' 15-05-2024
Dung lượng: 505.3 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Vân
Ngày gửi: 20h:40' 15-05-2024
Dung lượng: 505.3 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Tác phẩm: Con chim trốn tuyết
Tác giả: Paul Gallico
Thể loại: Văn học Thiếu nhi
Dịch giả: Trần Phong Giao, Hoàng Ưng, Hồ Tây
Nguồn: vnthuquan
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lời nói đầu
Con chim trốn tuyết
Cô gái làm búp bê
Con búp bê diệu kỳ
Tình Nghệ Sĩ
Phần Một
Phần Hai
Phần Ba
https://thuviensach.vn
Lời nói đầu
Sinh năm 1897 tại New York, sau hơn 20 năm cầm bút, tên tuổi nhà báo
Mỹ, Paul Gallico bỗng nổi bật trên văn đàn với “Con chim trốn tuyết”,
truyện vừa, gây chấn động dư luận bạn đọc cả trong và ngoài nước Mỹ.
Trong sáng, và thơ mộng, Paul Gallico đã nhẹ nhàng đi vào thế giới bên
trong đầy nhân ái khao khát yêu đương của nhân vật Rhayader, một hoạ sĩ
tật nguyền, phải tìm nơi ẩn dật ở một hải đăng hoang phế ven biển. Cái chết
cao đẹp của Rhayader bên dưới vòng cánh lượn đầy tình nghĩa của “con
chim trốn tuyết”, sự tuẫn tiết của chính nó, sự bùng nổ tình yêu trong lòng
Frith, cô gái ngây thơ và trong trắng... tất cả đã biến câu chuyện như thành
một bài thơ viết bằng văn xuôi ca ngợi vẻ đẹp cả trong tâm hồn lẫn ý thức
trách nhiệm của con người.
Môtip cốt truyện về cái đẹp ẩn chứa dưới vỏ ngoài xấu xí của một người
đàn ông làm rung động trái tim một cô gái lại được Gallico nhấn mạnh
trong “Tình nghệ sĩ”. Bảy con rối trong truyện là bảy mặt thiện lương trong
bản chất bị che giấu của Michel, gã múa rối độc ác và đê tiện. Thế nhưng
Mouche, cô gái có tâm hồn cao đẹp đã nhận ra hết thảy mọi khổ hình gã
phải nhận chịu trong cuộc tranh chấp nội tâm giữa thiện ác bên trong gã.
Không phải sự thương hại mà chính tình yêu của cô đã cứu vớt gã lột xác
để trở thành con người theo cái nghĩa cao đẹp của nó.
Tuy không thuộc vào hàng ngũ các nhà văn lỗi lạc Mỹ, Paul Gallico đã
cho ra đời nhiều tiểu thuyết nổi tiếng: Jennie (1950), Thomasina (1957),
Những bông hoa dành cho Harris (1958)... Tác phẩm Paul Gallico mang
tính nhân đạo sâu sắc, hướng con người vào những vẻ đẹp bên trong, khơi
gợi ở mỗi người tình yêu chân chính và trách nhiệm cao cả.
Giới thiệu Paul Gallico, chúng tôi còn mong gửi tới bạn đọc một lối viết
trữ tình, dung dị, giàu chất thơ trong văn học Mỹ.
---Sở văn hoá thông tin Minh Hải---
https://thuviensach.vn
Con chim trốn tuyết
Trần Phong Giao & Hoàng Ưng dịch
[1]
Cánh đồng lầy mênh mông chạy dọc theo theo bờ duyên hải Essex , giữa
[2]
thôn Chelmbury và Wickaeldroth, một bến chài của dân Saxon ngày xưa .
Đây là miền hoang đại cuối cùng còn sót lại tại nước Anh, một miền sình
lầy, hẻo lánh đầy cỏ lác và lau sậy với những bãi cỏ ngợp nước trải dài tới
bên bờ những ruộng muối lớn. Những bãi bùn non và những vũng nước
thuỷ triều sát bên đại dương đầy sóng gió.
Những đường mương rạch do nước thuỷ triều xẻ vào nội đại và những
nhánh sông nhỏ lượn uốn quanh co trước khi tuôn ra biển cả, qua miền lầy
lội, mặt đất bập bềnh lên xuống như hô hấp theo nhịp thuỷ triều lên xuống
mỗi ngày. Cảnh tượng vắng vẻ, cho ta cảm giác càng thêm quạnh hiu bởi
tiếng kêu, tiếng gọi của loài dã điểu làm tổ trong những đầm lầy hay ruộng
muối những con ngỗng trời, những con hải âu, vịt trời, le le, cò lửa, cò
hương mò mẫm tìm mồi trên những hồ nước mặn. Còn sự hiện diện của
loài người thì không có, không thấy một ai, hiếm lắm mới thấy một người
lưới chim hoặc vài thổ dân mò sò, tới đó tiếp tục làm cái nghề đã cũ mèm
[3]
ngay từ hồi những người Normand đặt chân lên miền Hasting .
Màu xám, màu xanh và màu xanh lá cây nhạt là những màu nổi bật, bởi
vì suốt trong những mùa đông dài dằng dặc, nhiều vũng nước trên bãi biển,
trên đầm lầy phản chiếu ánh sáng lạnh lẽo và xám đen của bầu trời. Nhưng
đôi khi, vào buổi bình minh hoặc lúc hoàng hôn, màu trời sắc đất bực lên
như ánh lửa vàng, lửa đỏ.
Sát bên một nhánh quanh co của con sông Aelder nhỏ bé có một quãng
đê thuộc bức trường thành trấn giữ bờ biển ngày xưa, khúc đê nhẵn và kiên
cố, không một kẽ hở, đó là thành luỹ bảo vệ đất liền chống lại sự xâm lấn
của biển cả. Con đê chạy sâu vào tận hồ muối, sâu vào đất liền tới ba dặm
kể từ eo biển nước Anh, rồi từ đó rẽ theo hướng Bắc. Chính ở góc đó mặt
đê bị sóng biển nhồi vỗ đã rạn vỡ tan tành. Con đê bị chọc thủng và qua
https://thuviensach.vn
chỗ hổng, biển cả như con thú đói ùa vào tranh giành đất đai, cả bức trường
thành và cả những vật gì còn lại nơi đó.
Lúc thuỷ triều rút, trơ ra những tảng đá vỡ màu xám đen, vết tích của
ngọn hải đăng hoang phế, nằm phơi trên mặt nước, lác đác quanh đó, tựa
như những cái phao cột xác chết, rải rác đầu những cây cọc của của một
[4]
hàng rào đã bị lúc xuống . Ngày xưa ngọn hải đăng nhô cao trên biển và
ánh đèn đã từng soi sáng dọc miền duyên hải Essex. Theo dòng năm tháng,
sóng biển soi đất lở dần, ngọn hải đăng hoá thành vô dụng.
Gần đây nó lại được dùng làm nơi trú ngụ của loài người. Có một người
đàn ông cô độc đến đó ở. Thân hình méo mó, nhưng tâm hồn anh tràn đầy
tình thương đối với các loài hoang thú bị săn đuổi. Trông anh thật xấu xí
nhưng chính anh lại là người tạo ra cái đẹp. Câu chuyện sau đây thuật về
chính chàng trai đó, và một cô bé đã tìm hiểu được chàng, tìm hiểu được
một vẻ đẹp nào đó tiềm ẩn bên trong cái thân hình thô kệch của chàng.
Đây không phải loại truyện có bố cục với những tình tiết nhịp nhàng hấp
dẫn. Cốt truyện được thu góp từ nhiều nguồn và từ nhiều người, một phần
dưới hình thức những mẩu chuyện vụn vặt của chính những người đã
chứng kiến những cảnh tượng khốc liệt và kỳ lạ. Rốt cuộc, biển cả đã trở lại
nguyên vị, bao phủ lên nơi chiến trận lớp sóng nhấp nhô, và bóng chim
trắng khổng lồ, hai đầu cánh đốm đen, cánh chim đã từng chứng kiến sự
việc từ đầu đến cuối, cũng đã quay về miền yên lặng huyền bí, cóng lạnh
của vùng Bắc cực, là nơi mà từ đó nó đã bay đi.
Vào cuối mùa xuân năm 1930, Philip Rhayader tìm đến ngọn hải đăng
hoang phế ở cuối sông Aelder. Chàng mua vọng đèn bỏ hoang cùng nhiều
mẫu đất lầy và đồng cỏ nước mặn quanh đó.
Chàng sống cô đơn và cặm cụi làm việc một mình quanh năm. Chàng là
hoạ sĩ chuyên vẽ chim và phong cảnh thiên nhiên. Vì nhiều lí do, chàng đã
trốn lánh khỏi xã hội loài người. Người ta có thể tìm ra một vài trong số
những lí do đó, trong những chuyến chàng xuống làng Chelmbury, nửa
tháng một kỳ để mua thực phẩm, phơi bày tấm thân lệch và bộ mặt đen đúa
https://thuviensach.vn
của chàng dưới những cái nhìn soi mói của dân làng. Bởi vì chàng gù lưng
và cánh tay trái có tật teo đi, cổ tay khoèo lại tựa như móng của loài chim.
Ít lâu sau dân làng dần quen với hình dáng kỳ quái của chàng, nhỏ nhung
đầy sức lực, quen dần với chiếc đầu vững chắc, tóc đen, râu rậm hơi tụt
xuống phía dưới chiếc gò bí hiểm mọc trên lưng chàng, quen dần với đôi
mắt sáng ngời, cánh tay hình móng chim, và đối với họ chàng trở thành
“anh chàng vẽ tranh kỳ quái sống ở hải đăng”.
Hình thù quái dị thường làm người có tật hận thù loài người. Nhưng
Rhayader không hề thù hận! Chàng thương yêu tha thiết con người, mọi
loài muông thú và cảnh vật thiên nhiên. Tâm hồn chàng tràn đầy lòng
thương xót và sự cảm thông. Chàng đã làm chủ được điều bất hạnh, nhưng
chàng không sao chế ngự nổi sự hắt hủi phải gánh chịu, sự hắt hủi gây ra
bởi hình thù quái dị của chàng. Sự kiện dồn chàng đến thế ẩn dật là sự thất
bại không tìm thấy nơi đâu sự đền đáp lại mối cảm tình nồng nàn từ nội
tâm chàng tuôn trào ra. Phụ nữ lẩn tránh chàng. Còn đàn ông có thể đối tốt
với chàng, nếu họ hiểu chàng. Nhưng chỉ nghĩ rằng người đó phải cố gắng
mới hiểu được chàng cũng khiến chàng tủi hổ và cũng đủ để chàng lánh xa
kẻ ấy.
Năm chàng đến vùng đồng lầy chàng đã hai mưoi bảy tuổi. Chàng đã đi
du lịch khá nhiều nơi và đã chiến đấu một cách anh dũng trước khi đi đến
quyết định rút lui ra khỏi cái thế giới mà chàng không có chỗ đứng như
những người đàn ông khác. Ngoài sự nhạy cảm của người nghệ sĩ và sự
hiền dịu đầy phụ nữ tính chứa chất trong lồng ngực căng phồng, chàng
cũng đàn ông như ai.
Trong cuộc sống ẩn dật, chàng còn có chim chóc, hội hoạ và cánh thuyền
buồm. Chàng có một chiếc thuyền dài mười sáu bộ, mà chàng sử dụng rất
tài tình. Những lúc một mình, không bị ai dòm ngó xét nét, chàng điều
khiển nó rất khéo léo bằng bàn tay có tật, chàng cũng thường vận dụng đến
hai hàm răng vững chắc để điều chỉnh những cánh buồm bập bùng khi gặp
cơn gió chướng.
https://thuviensach.vn
Chàng thường thả thuyền dọc theo con lạch hay chạy ra khơi, mỗi lần
chàng đi tới mấy ngày liền, tìm kiếm những loài chim mới để chụp ảnh hay
vẽ phác và chàng cũng lưới được chim khá thiện nghệ để tăng thêm cho
bầy hoang điểu mà chàng thu thập về nuôi trong chiếc chuồng dựng bên
phòng vẽ vốn là trung tâm ở ẩn của chàng.
Chàng không hề bắn chim bao giờ và chàng không chịu cho những người
săn chim lại gần khu vực chàng ở. Chàng là bạn thân của mọi loài chim
hoang dã và chúng cũng đền đáp lại chàng bằng tình thân hữu.
Thuần thục trong khu vườn nhà chàng có giống ngỗng hoang hàng năm
cứ đến tháng Mười lại từ miền Băng-đảo và từ quần đảo Spitbergen bay
dọc duyên hải mà xuống, từng bầy lớp rợp trời và thinh không rào rào tiếng
cánh vỗ mỗi khi chúng bay ngang - những con ngỗng thân lông nâu, chân
mầu hồng, ngực lông trắng với những chiếc cổ lông đen và bộ mặt ngộ
nghĩnh, những con hải âu lông trắng ngực có sọc đen và nhiều loại vịt trời,
le le, mòng két, mòng đốc…
Vài con được xén lông cánh ở lại làm chim hiệu và mỗi đầu mùa đông
chúng sẽ nhử những loài hoang điểu dừng cánh nơi đây là chỗ trú ẩn an
toàn và sẽ có miếng ăn.
Hàng trăm con đã đến và ở với chàng suốt mùa đông lạnh buốt từ tháng
Mười cho mãi tới đầu xuân, khi chúng lại di chuyển về phương Bắc, trở về
đất tổ của chúng, gần bên những vòm băng đá.
Rhayader thấy mãn nguyện khi biết rằng dù cho bão táp có dập vùi, sự
lạnh buốt có nghiệt ngã và mồi ăn có khan hiếm hay những cây súng lớn
mũi nhọn của những người thợ săn đeo túi đựng thú ở xa có nổ, thì những
con chim của chàng vẫn bình an - những con chim mà chàng đã tụ tập vào
nơi an toàn dưới sự bảo trợ của đôi cánh tay và con tim chàng, những con
chim hoang dã hiểu biết và đã đặt lòng tin cậy nơi chàng.
Vào xuân chúng sẽ đáp lại tiếng gọi của quê hương miền bắc, nhưng
sang thu chúng sẽ trở lại, trở lại kêu la rối rít, tru tréo om sòm, huyên náo
cả vòm trời thu muộn, lượn quanh ngọn hải đăng xưa cũ rồi cùng hạ cánh
https://thuviensach.vn
xuống gần đấy để lại đóng vai khách quý của chàng - những con chim mà
chàng còn nhớ rõ là đã nuôi chúng từ năm trước.
Và điều này khiến Rhayader sung sướng, bởi vì chàng biết rằng ẩn bên
trong chúng có mầm mống tri giác về sự có mặt và nơi ẩn náu an toàn của
chàng, rằng sự tri giác này đã tham dự vào cuộc đời chúng để mỗi khi bầu
trời trở xám và gió bấc thổi lộng chúng sẽ tìm lại với chàng không hề lầm
lẫn.
Ngoài ra chàng để hết tâm trí vào việc vẽ lại cảnh vật nơi chàng đang
sống cùng những sinh vật trong miền. Không có nhiều tranh của Rhayader
ngoài thị trường. Chàng say sưa giữ lại, chồng chất chúng trong hải đăng,
và xếp đống ở những tầng trên có tới hàng trăm bức. Chàng không hài lòng
về chúng, vì người nghệ sĩ vốn không mấy khi mãn nguyện về những gì
mình sáng tạo.
Nhưng vài bức đến tay người thưởng ngoạn đều là những kiệt tác, tràn
ngập nguồn sáng và màu sắc từ mặt nước loáng lên, từ những cánh chim
bay rung động toả xuống, từ sự gắng gỏi mãnh liệt của những cánh chim
bay ngược luồng gió sớm mai đang thổi rạp những ngọn lau lớn xuống.
Chàng diễn tả vẻ cô tịch và bầu khí lạnh đượm vị muối, sự vĩnh cửu, vẻ
thiên thu của cánh đồng lầy, những sinh vật hoang dã, những đàn chim bay
trong bình minh, hoặc thảng thốt vút lên bầu trời và những bóng chim xoải
cánh bay trong đêm lẩn trốn ánh trăng.
Vào một buổi chiều tháng Một, ba năm sau khi Rhayader đến ở vùng
Đồng lầy, có một cô bé lại gần phòng vẽ trong hải đăng, qua lối bờ đê. Hai
tay cô ôm khư khư một gói nặng.
Cô bé trạc mười hai tuổi, mảnh mai, lem luốc, lo lắng và nhút nhát như
một con chim, nhưng dưới vẻ lọ lem ấy cô ta đẹp kỳ lạ như một nàng tiên
của vùng Đồng lầy. Cô là giống người Saxon thuần túy, to xương, da trắng
mịn, với một chiếc đầu còn lớn hơn so với thân hình và đôi mắt thăm thẳm
màu tím sẫm.
Cô bé vô cùng khiếp sợ người đàn ông xấu xí mà cô phải đến gặp, vì một
huyền thoại về Rhayader đã bắt đầu hình thành, và những người thổ dân ưa
https://thuviensach.vn
săn bắn đâm ra thù ghét chàng vì chàng đã cản trở môn thể thao ưa thích
của họ.
Nhưng vượt trên nỗi sợ hãi ấy là tình cảnh nguy khốn của sinh vật mà
em đang ấp ủ trên tay. Trong trái tim bé nhỏ của em, đã gắn sâu sự hiểu
biết, nhờ nghe người ta đồn đãi quanh vùng, rằng con ngáo ộp sống trong
hải đăng có bùa phép chữa lành những thú vật bị thương.
Trước đó chưa bao giờ cô bé nhìn thấy Rhayader và cô suýt hoảng hốt bỏ
chạy trước bóng dáng chàng xuất hiện nơi khung cửa phòng vẽ, khi nghe
tiếng chân người lại gần - một sự hiện hình dễ sợ với chiếc đầu bù xù và bộ
râu đen, chiếc lưng gù buồn thảm và cánh tay khoèo hình móng chim.
Cô bé đứng sững lại, nhướng mắt nhìn chằm chặp hơi sẵng như một con
chim nhút nhát dưới đồng lầy sẵn sàng cất cánh bay xa.
Nhưng khi chàng lên tiếng, giọng chàng thật trầm và thân thiện:
“Có chuyện gì đấy em?”
Cô bé vẫn không bớt sợ hãi, rụt rè bước tới. Vật mà cô bé ôm trong cánh
tay là một con chim lớn màu trắng, con vật nằm bất động. Có những vệt
máu trên bộ lông trắng và trên chiếc áo của cô bé nơi mảnh vải dùng để lót
con chim.
Cô bé đặt con chim vào đôi cánh tay chàng.
“Thưa ông, em bắt gặp nó, nó bị thương. Nó còn sống, phải không ông?”
“Đúng. Đúng đấy, tôi cũng nghĩ vậy. vào đây, vào đây em”.
Rhayder mang con chim vào trong nhà, đặt nó lên bàn, và con vật yếu
đuối cựa mình. Tính tò mò lước thắng sự sợ hãi, cô bé vào theo và thấy
mình ấm hẳn lên trong căn phòng có ngọn lửa than đốt để sưởi, căn phòng
sáng rực lên dưới những bức tranh màu treo la liệt trên tường, và tràn ngập
một mùi hương là lạ nhưng dễ chịu.
Con chim vẫy cánh. Với bàn tay lành lặn, Rhayader trải rộng một trong
hai chiếc cánh trắng lớn ra. Bầu cánh có đốm đen rất đẹp.
Rhayader trầm trồ ngắm nghía và hỏi:
“Này em! Em thấy nó ở đâu đấy?”
https://thuviensach.vn
“Ở trong đồng lầy, ông ạ, nơi những tay thợ săn đi qua. Loại chim gì ông
nhỉ?”
“Loại ngỗng trốn tuyết gốc Canada. Mà tại sao nên nông nỗi này?”
Tên con chim hình như chẳng có ý nghĩa gì đối với cô gái bé nhỏ. Đôi
mắt thăm thẳm màu tím sẫm sáng lên làm át cả vẻ lem luốc của khuôn mặt
gầy đét, chăm chú nhìn con vật bị thương đầy vẻ lo âu.
Cô bé hỏi:
“Liệu ông có chữa cho nó lành được không?”
“Được, được chứ”, Rhayader đáp. “Chúng ta thử xem sao. Lại đây, em
giúp tôi một tay nhé”.
Trên chiếc kệ có sẵn kéo, băng và nẹp gỗ để tháp xương bị gãy, và mặc
dù có tật, chàng khéo tay lạ thường, ngay cả cánh tay khoèo hình móng
chim cũng vậy, cầm vật dụng rất tài.
Chàng nói: “Tội nghiệp, cô ả bị đạn bắn trúng đây. Cẳng bị gãy rồi, đầu
cánh cũng vậy, nhưng không đến nỗi nặng lắm. Xem nào, mình phải xén
lông cánh mới băng bó được, nhưng sang xuân rồi lông cánh sẽ mọc lại và
cô ả sẽ lại bay được. Mình sẽ cột chặt cánh vào thân, và như vậy cô ta sẽ
không cựa quậy đôi cánh được cho tới khi lành hẳn. Kế đó mình sẽ bó chỗ
chân cô ả bị đau”.
Cô bé quên cả sợ, say sưa theo dõi việc làm của chàng, một phần cũng vì
chàng vừa bó chiếc chân chim gãy vừa kể cho cô nghe một câu chuyện kỳ
diệu.
Con chim còn non, chưa tròn một tuổi. Nó sinh ra ở đất bắc xa xôi, cách
mấy trùng biển cả trên một lãnh địa thuộc vương quốc Anh Cát Lợi. Nó
bay về phương nam để trốn tuyết, trốn băng giá, trốn làn khí lạnh rợn
người, một cơn bão lớn đã vồ lấy nó, đã cuốn nó vào những đợt cuồng
phong. Một trận bão thật kinh khủng, mạnh gấp bội đôi cánh lớn của nó, và
mạnh hơn bất cứ sức mạnh nào. Ròng rã nhiều đêm và nhiều ngày, trận bão
đã xua đuổi nó, không ngừng nghỉ và con chim mắc kẹt không thể làm
được gì hơn là nương bay theo luồng gió cuốn. Sau cùng cơn bão tan dần
và bản năng tinh tường lại dẫn nó bay theo về hướng nam, nó đã tới một
https://thuviensach.vn
miền đất xa lạ và quanh nó toàn giống chim lạ mà trước đó nó chưa hề thấy.
Sau cùng, mệt lả vì đuối sức, nó sà xuống nghỉ trên cánh đồng xanh thân
thuộc để rồi được viên đạn của người đi săn tiếp đón.
“Một lối tiếp rước tàn nhẫn đối với một vị công chúa từ nơi xa tới viếng
thăm”, Rhayader kết luận. “Mình sẽ gọi cô ta bằng biệu hiệu “La Prrincesse
Perdue” – Nàng công chúa lạc loài. Rồi chỉ ít ngày sau nàng sẽ khá hẳn đó.
Coi nào!” Chàng thọc tay vào túi lấy ra một nắm hạt. Con ngỗng trốn tuyết
mở tròn đôi mắt ra và bắt đầu rỉa mồi.
Cô bé cất tiếng cười thích thú, rồi bỗng nín thở khi chợt nhận ra nơi chốn
cô ta đang ở, và không nói nửa lời cô bé quay mình chạy vọt ra khỏi cửa.
“Đợi chút, đợi một chút!” Rhayader la lên và chạy theo ra cửa. Chàng
đứng lại nơi ngưỡng cửa và khuôn cửa đóng khung lấy hình thù dềnh dàng
của chàng. Cô bé đã thoát ra tới bờ đê ven biển rồi, nhưng nghe tiếng gọi
thì dừng lại.
“Này em, em tên là gì nhỉ?”
“Frith”.
“Hả?” Rhayader hỏi. “Tôi chắc là Fritha mới đúng. Thế em ở đâu?”
“Với dân chài dưới bến Wickaeldroth”. Cô bé đọc tên ấy bằng giọng
Saxon thật xưa.
“Mai hay mốt em có lại thăm sức khoẻ nàng Công chúa hay không?”
Cô bé không trả lời ngay khiến Rhayader lại liên tưởng đến những con
chim hoang dưới đầm lầy khi hoảng sợ thường bất động trong khoảng một
phần mười giây trước khi vỗ cánh bay xa.
Nhưng giọng nói trong trẻo mà yếu ớt của cô bé lại vọng tới chàng: “Có
chứ!”
Và rồi cô bé bỏ chạy, mái tóc hung vàng tha thướt tung bay trước gió.
Con ngỗng trốn tuyết bình phục mau lẹ, khoảng giữa mùa đông nó đã tập
tễnh đi trong khu đất có hàng rào, hay nhập bọn với những con ngỗng
hoang chân hồng, chứ không đi với bọn lông nâu, và nó cũng biết chạy lại
tìm ăn mỗi khi Rhayader lên tiếng gọi. Và cô bé, Fritha, hay Frith, là người
https://thuviensach.vn
khách thường xuyên lui tới. Cô bé không còn sợ hãi Rhayader nữa. Trí
tưởng tượng của cô bị thu hút bởi sự hiện diện của nàng công chúa áo trắng
kỳ ngộ đến từ miền đất lạ cách mấy trùng dương, miền đất toàn màu hồng
trên tấm bản đồ mà Rhayader đã chỉ cho em xem, trên đó hai người dựng
lại cuộc hành trình vất vả mà cánh chim lạc lõng trong cơn gió bão đã vượt
quakể từ khi rời quê hương trên đất Canada để đến miền Đồng lầy rộng lớn
trên duyên hải Essex.
Rồi một buổi sáng tháng Sáu một bầy ngỗng chân hồng cuối cùng, no nê,
mập mạp sau suốt mùa đông ở hải đăng, nghe theo tiếng gọi thôi thúc của
miền đất xanh tươi, uể oải bay lên theo vòng trôn ốc mỗi lúc một rộng. Lẫn
trong đàn chim đó, rực sáng trong ánh nắng xuân tươi, là thân lông trắng
tuyền với hai đầu cánh lớn đốm đen của con chim trốn tuyết. Sự việc xảy ra
vào lúc Frith có mặt ở hải đăng. Tiếng kêu của cô bé khiến Rhayader từ
trong phòng vẽ nhảy bổ ra.
“Coi kìa! Coi kìa! Nàng công chúa! Bộ nàng cũng bỏ đi hay sao?”
Rhayader ngước nhìn lên trời dõi theo những chấm đen di chuyển.
“Chà!” chàng nói, bất giác dập theo lời cô bé. “Nàng công chúa hồi hương!
Lắng tai mà nghe, nàng đang từ giã chúng ta đó!”.
Từ trên vòm trời trong vắt vọng xuống tiếng kêu ai oán của những con
ngỗng chân hồng, và nổi bật lên trên, cao hơn, trong hơn, là tiếng của con
chim trốn tuyết. Những chấm đen di chuyển theo hướng Bắc, kết thành
hình chữ V nhỏ dần, rồi mất hút.
Từ bữa con chim trốn tuyết ra đi, Frith không lui tới vọng hải đăng nữa.
Rhayader lại một lần nữa thấm thía ý nghĩa của hai chữ “cô đơn”.
Mùa hè năm ấy, moi trong ký ức, chàng vẽ lại hình dáng thanh thanh của
cô bé, mặt lem luốc, mái tóc hung vàng bồng bềnh trong gió lộng tháng
chín, trong tay ghì chặt con chim trắng bị thương.
Vào giữa tháng mười, có một chuyện lạ xảy ra. Lúc đó Rhayader đang
đứng trong khu đất có hàng rào cho chim ăn. Gió đông bắc gây gấy lạnh và
mặt đất rầm rì dưới làn nước thuỷ triều dâng. Vượt lên trên tiếng sóng biển
và tiếng gió rì rào, chàng chợt nghe, có tiếng kêu lanh lảnh, cao vút. Chàng
https://thuviensach.vn
ngước mắt nhìn lên vòm trời chiều vừa đúng lúc để trước hết thấy một
chấm đen nhỏ xíu, rồi thấy ảo ảnh một giấc mơ đen trắng chập chờn xuất
hiện, nó lượn quanh hải đăng một vòng, rồi, sau chót, một cánh chim thực
hạ cánh xuống đất ngay chỗ chuồng chim rồi đường bệ tiến lên đòi ăn như
thể nó chưa hề bỏ đi xa bao giờ. Đó chính là con chim trốn tuyết, không thể
nào lầm lẫn được. Nó đã đi đâu? Chắc chắn là không thể bay về tổ nó bên
Canada. Không, chắc chắn là nó đi nghỉ hè ở Greenland hay Spitzbergen
với những con ngỗng chân hồng. Nó đã nhớ và đã trở lại.
Kỳ tới xuống thôn Chelmbury mua lương thực, chàng nhờ cô trưởng
trạm bưu điện nhắn tin giùm và điều đó đã khiến cô ta ngạc nhiên không ít.
Chàng nói: “Phiền cô làm ơn nói lại với Frith, cô bé ở dưới xóm chài
Wickaeldroth, rằng Nàng công chúa đi lạc đã trở lại”.
Ba hôm sau, Frith, to lớn hơn, nhưng áo quần vẫn xốc xếch, tóc rối, bẽn
lẽn tìm đến hải đăng để thăm nàng công chúa.
Thời gian trôi qua. Trên vùng đồng lầy, bước đi của thời gian được đánh
dấu bởi sự lên xuống của nước thủy triều, nhịp đi chầm chậm của bốn mùa,
sự di chuyển của chim muông, và, riêng đối với Rhayader, sự đến và đi của
con chim trốn tuyết.
Thế giới bên ngoài xao động, bùng sôi và gầm gừ dưới áp lực của một
mãnh lực nào đấy, không bao lâu sau đã bùng nổ và đưa thế giới đến bên
bờ sự hủy diệt. Nhưng mãi tới lúc đó, Rhayader vẫn chưa chịu ảnh hưởng
của thời cuộc, và cả Frith cũng thế. Ngay cả khi cô bé đã khôn lớn, hai
người vẫn hoà hợp tự nhiên một cách lạ thường. Khi con chim trốn tuyết có
mặt tại hải đăng thì chính cô bé cũng lại lui tới để thăm viếng và học hỏi
Rhayader được nhiều điều. Hai người ra biển chơi trên chiếc thuyền buồm
chạy nhanh mà chàng điều khiển rất tài tình. Họ lưới chim hoang để tăng
thêm cố chim đang nuôi, và dựng thêm hàng rào, mở thêm sân che chở cho
chúng. Nhờ chàng, cô bé học hỏi được nhiều điều về đủ loại dã điểu, từ loài
hải âu tới giống chim ưng bay lượn trên vùng đồng lầy. Thỉnh thoảng cô bé
nấu ăn cho chàng và đôi khi cô còn tập pha sơn vẽ nữa.
https://thuviensach.vn
Nhưng hễ con chim trốn tuyết bay về vùng cư ngụ mùa hè thì mọi
chuyện lại xảy ra như thể có một hàng rào ngăn cách giữa hai người và cô
gái không lui tới hải đăng nữa. Có một năm con chim không trở lại và
Rhayader buồn khôn tả xiết. Chàng như có cảm tưởng mọi sự đã hết trong
đời chàng. Chàng vẽ như điên suốt mùa đông và mùa hè sau đó, và không
hề gặp mặt cô bé một lần nào. Nhưng vào thu, tiếng kêu thân thuộc lại vang
trên thinh không, và cánh chim trắng khổng lồ, bây giờ đã lớn hết cỡ, từ
trời cao hạ xuống cũng bí mật như lúc nó ra đi. Mừng rỡ, Rhayader dong
thuyền xuống Chelmbury để nhờ cô trưởng trạm bưu điện nhắn tin giùm.
Lạ thay, lần này sau khi nhắn tin phải đợi tới hơn một tháng trời Frith
mới xuất hiện và Rhayader kinh ngạc đến sững người khi nhận thấy cô ta
không còn là một cô bé nữa.
Và sau cái năm con chim không tới ấy, thời hạn nó vắng mặt càng lúc
càng thu ngắn lại. Nó đã trở nên dạn dĩ đến nỗi lúc nào nó cũng quấn quít
theo Rhayader và nó dám vào cả trong phòng vẽ những lúc chàng đang làm
việc.
Mùa xuân năm 1940 bầy di điểu rời khỏi vùng đồng lầy sớm hơn thường
lệ. Thế giới đã lâm chiến. Tiếng gầm rú của máy bay phóng pháo và tiếng
nổ ì ầm của bom đạn làm chúng khiếp đảm. Hôm mồng một tháng năm,
Frith và Rhayader đứng vai kề vai bên bờ đê ven biển theo dõi những đốm
cánh cuối cùng của đán ngỗng chân hồng cánh không bị xén và những con
ngỗng hoang lông nâu cất cánh bay lên từ nơi chúng trú ẩn. Cô gái thì cao,
dáng thanh tú, thảnh thơi như gió thoảng, vẻ đẹp mê hồn. Chàng thì đen
đúa, thô kệch, cái đầu râu tóc bù xù ngước nhìn lên trời, đôi mắt đen lóng
lánh theo dõi đàn chim bay thành hàng.
“Coi kìa, Philip”, Frith gọi.
Rhayader nhìn theo hướng mắt của cô gái. Con chim trốn tuyết đã cất
cánh, đôi cánh lớn xoè ra, nhưng nó bay thấp và có lúc bay sát chỗ hai
người đứng, sát đến nỗi hai đầu cánh đen gần như quệt vào người họ, và họ
cảm thấy luồng gió mạnh của lớp cánh chim tạt vào người. Một lần, rồi hai
https://thuviensach.vn
lần, con chim lượn quanh hải đăng, rồi hạ cánh trong sân, nơi có những con
ngỗng bị xén lông cánh còn ở lại, và bắt đầu nhặt mồi ăn thong thả.
“Nó không đi nữa”, Frith nói, đầy vẻ kinh ngạc trong giọng cô gái. Cánh
chim trong lúc bay sà xuống sát bên cô dường như đã đem đến cho cô một
niềm phấn khởi kỳ diệu “Nàng Công Chúa sẽ ở lại”.
“Phải”, Rhayader đáp, và giọng nói của chàng run lên vì cảm động.
“Nàng sẽ ở lại, Nàng sẽ không đi nữa. Nàng Công Chúa đi lạc sẽ không còn
đi lạc nữa. Từ nay nơi đây là quê hương của nàng- quê hương do nàng tự ý
chọn lựa”.
Sức quyến rũ mà cánh chim vấn chung quanh cô gái bị rạn vỡ và Frith
bỗng ý thức được sự kiện là cô bị kinh hoàng, và nguyên nhân gây nên sự
sợ hãi ấy chính là đôi mắt Rhayader - sự van lơn cầu khẩn, nỗi cô đơn và
tất cả những gì thầm kín, sâu xa, sôi động đều tiềm ẩn bên trong và bên trên
tia mắt ấy, lúc chàng ngước nhìn cô.
Những lời chàng vừa nói cứ lập lại trong đầu cô gái tựa như chính chàng
vừa nhắc lại: “Từ nay nơi đây là quê hương của cô – cô tự ý chọn lựa”. Bản
năng hền dịu của Frith đã làm Rhayader xao xuyến và làm cho cô hiểu
được những ý nghĩ thầm kín mà vì mặc cảm tật nguyền, xấu xí, chàng đã
không thể nói được nên lời. Và vì lời nói của chàng có sức phủ dụ, cô lại
càng thêm hoảng sợ trước sự yên lặng cùng mãnh lực của những gì không
nói ra giữa hai người. Bản năng đàn bà trong cô như thôi thúc cô bỏ chạy
trước một sự việc nào đó mà cô chưa đủ khả năng hiểu thấu.
Frith lắp bắp: “Em – em phải về. Thôi chào ông. Em cũng vui là – là
nàng công chúa sẽ ở lại. Từ đây ông không cô đơn lắm nữa”.
Cô gái quay lưng, thoăn thoắt bước đi và chỉ thoáng nghe thấy lời chào
buồn thảm “Chào em, Frith”, mơ hồ như tiếng ma, lạc trong tiếng gió thổi
rì rào trên đồng cỏ hoang. Đi được một thôi dài rồi cô mới dám liếc mắt
nhìn trở lại phía sau. Chàng vẫn đứng trên bờ đê, một chấm đen nhỏ in trên
nền trời bao la.
Cơn sợ hãi bấy giờ mới tan. Nó nhường chỗ cho một cái gì khác, một
cảm giác mất mát là lạ, cảm giác đó mạnh đến nỗi khiến cô đứng sững lại
https://thuviensach.vn
hồi lâu. Rồi, bước đi chậm chạp hơn, cô tiếp tục rời xa dần ngọn hải đăng
mọc chĩa lên nền trời như một ngón tay, tiếp tục rời xa dần người đàn ông
đứng ở phía dưới.
Sau đó có đến ba tuần Frith mới trở lại hải đăng. Tháng Năm đã gần hết,
và ngày hôm đó, ngày cũng dần tàn, vào lúc hoàng hôn đang nhường dần
chỗ cho màu trắng bạc của vầng trăng đã treo lơ lửng trên vòm trời phía
đông.
Cô gái tự nhủ, trong lúc tiến bước, rằng cô cần phải tới xem con chim
trốn tuyết có còn ở lại đúng như lời Rhayader đã nói hay không. Rất có thể
là rốt cuộc nó đã bay đi. Những bước đi vững chắc của cô trên mặt đê thật
là hăng hái và đôi lúc bất giác cô chợt nhận ra mình đang rảo bước đi mau.
Frith nhìn thấy ánh lửa vàng của chiếc đèn lồng ở dưới bến riêng của
Rhayader và cô xuống gặp chàng dưới đó. Chiếc thuyền buồm của chàng
nhè nhẹ đung đưa trên ngọn nước triều dâng và chàng đang chất lương thực
lên thuyền - nước ngọt, thức ăn khô, mấy chai rượu mạnh, đồ dùng trên
thuyền và một cánh buồm phòng hờ. Khi chàng quay lại vì nghe tiếng chân
cô đến gần, cô thấy vẻ mặt chàng tái nhợt, nhưng đôi mắt đen lúc bình
thường vốn rất ư dịu dàng, đang sáng ngời lên vì cảm kích, và chàng thở
hào hển vì mệt nhọc.
Frith bỗng nhiên cảm thấy lo sợ. Con chim trốn tuyết bị lãng quên rồi.
“Philip! Bộ anh dọn đi nơi khác à?”
Rhayader ngừng tay để chào đón cô gái, và trên gương mặt chàng thoáng
hiện một vẻ gì khác thường - một sắc diện hớn hở mà trước đó cô chưa
từng thấy bao giờ.
“Frith! Tôi mừng vì em đến đúng lúc. Vâng, tôi phải đi. Một chuyến đi
ngắn ngủi. Rồi tôi sẽ trở về”. Giọng nói của chàng thường nhật dịu dàng,
bữa nay trở nên khàn khàn vì chàng đã cố gắng rõ rệt để chế ngự cơn xúc
động trong nội tâm.
Frith hỏi: “Anh phải đi dâu chứ?”
[5]
Rhayader vồn vã kể. Chàng phải đi Dunkerque .
https://thuviensach.vn
Cách chừng một trăm dặm bên kia bờ biển phía Bắc, một đạo binh Anh
mắc bẫy ở đó, trên bãi cát, đang chờ bị tiêu diệt bởi bàn tay quân Đức đang
tiến tới. Hải cảng ngùn ngụt bốc cháy, tình cảnh thật tuyệt vọng. Chàng
nghe được tin ấy khi chàng xuống dưới làng mua lương thực. Nhiều người
đã đáp lại lời kêu gọi của chính phủ rời bến Chelmbury với đủ thứ tàu: tàu
kéo hàng, tàu đánh cá hay xuồng máy, miễn là máy còn chạy nổi đều được
kéo ra khỏi cảng, vượt eo biển để lôi binh sĩ ra khỏi bãi biển, chở họ đến
những tàu vận tải hay những chiến hạm lớn không vào được chỗ đó. Dân
chúng cố gắng cứu sống càng nhiều càng hay số binh sĩ Anh thoát khỏi làn
mưa đạn của quân Đức.
Frith lắng nghe và cảm thấy lòng mình buồn như muốn chết. Chàng cho
biết là chàng sẽ vượt qua eo biển trên chiếc thuyền buồm nhỏ của chàng.
Nó có thể chở được sáu người mỗi chuyến, nếu cần thì bảy người. Chàng
có thể chở nhiều chuyến từ bãi biển ra tàu vận tải đậu ngoài khơi.
Cô gái còn trẻ, chất phác, vụng dại. Em chưa hiểu gì về chiến tranh, hoặc
về những gì đang xảy ra trên đất Pháp, hoặc về ý nghĩa sự mắc bẫy của
đoàn quân Anh, nhưng do linh tính cô gái cũng biết ở nơi xa xôi đó thật
nguy hiểm.
“Philip! Anh đi thật sao? Anh sẽ không về được đâu. Mà sao anh lại phải
đi?”
Cơn hăng say đang bồng bột trong tâm hồn chàng tưởng chừng tan biến
trước đợt đầu tiên của những câu nói và chàng cố giải thích bằng những lời
lẽ mà cô gái có thể hiểu được.
Chàng nói: “Binh sĩ bị lùa ra bãi biển giống như những con chim bị săn
đuổi, Frith ạ, như những con chim bị săn và bị thương mà chúng mình vẫn
thường bắt gặp và đưa về nơi trú ẩn. Bay lượn trên họ là một bầy chim
bằng thép, những con diều hâu, chim ưng, kên kên, và họ chẳng biết nấp
vào đâu để tránh những con chim sắt săn mồi ấy. Họ bị thua, bị bão táp dồn
đuổi, bị đe doạ như nàng công chúa đi lạc mà em đã bắt gặp trong đầm lầy
và mang đến cho tôi nhiều năm trước, và chúng ta đã cùng lo chạy chữa.
Cũng như bầy hoang điểu của chúng ta, những người lính đó cần được giúp
https://thuviensach.vn
đỡ, em ạ. Và vì thế mà tôi phải đi, đó là điều mà tôi có thể làm được. Đúng,
tôi làm được mà. Ít ra là một lần - phải, ít ra là một lần tôi có dịp chứng tỏ
mình là đàn ông và có thể đảm nhận trách nhiệm của mình”.
Frith nhìn Rhayader trừng trừng. Chàng như đã hoá thân. Lần đầu tiên cô
gái thấy chàng không còn xấu xí, tật nguyền nữa, trái lại chàng rất đẹp.
Trong tâm hồn cô cũng sôi sục bao nhiêu điều muốn được nói nên lời,
nhưng cô không biết nói thế nào.
“Philip! Em sẽ đi cùng với anh!”
Rhayader lắc đầu: “Em...
Tác phẩm: Con chim trốn tuyết
Tác giả: Paul Gallico
Thể loại: Văn học Thiếu nhi
Dịch giả: Trần Phong Giao, Hoàng Ưng, Hồ Tây
Nguồn: vnthuquan
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lời nói đầu
Con chim trốn tuyết
Cô gái làm búp bê
Con búp bê diệu kỳ
Tình Nghệ Sĩ
Phần Một
Phần Hai
Phần Ba
https://thuviensach.vn
Lời nói đầu
Sinh năm 1897 tại New York, sau hơn 20 năm cầm bút, tên tuổi nhà báo
Mỹ, Paul Gallico bỗng nổi bật trên văn đàn với “Con chim trốn tuyết”,
truyện vừa, gây chấn động dư luận bạn đọc cả trong và ngoài nước Mỹ.
Trong sáng, và thơ mộng, Paul Gallico đã nhẹ nhàng đi vào thế giới bên
trong đầy nhân ái khao khát yêu đương của nhân vật Rhayader, một hoạ sĩ
tật nguyền, phải tìm nơi ẩn dật ở một hải đăng hoang phế ven biển. Cái chết
cao đẹp của Rhayader bên dưới vòng cánh lượn đầy tình nghĩa của “con
chim trốn tuyết”, sự tuẫn tiết của chính nó, sự bùng nổ tình yêu trong lòng
Frith, cô gái ngây thơ và trong trắng... tất cả đã biến câu chuyện như thành
một bài thơ viết bằng văn xuôi ca ngợi vẻ đẹp cả trong tâm hồn lẫn ý thức
trách nhiệm của con người.
Môtip cốt truyện về cái đẹp ẩn chứa dưới vỏ ngoài xấu xí của một người
đàn ông làm rung động trái tim một cô gái lại được Gallico nhấn mạnh
trong “Tình nghệ sĩ”. Bảy con rối trong truyện là bảy mặt thiện lương trong
bản chất bị che giấu của Michel, gã múa rối độc ác và đê tiện. Thế nhưng
Mouche, cô gái có tâm hồn cao đẹp đã nhận ra hết thảy mọi khổ hình gã
phải nhận chịu trong cuộc tranh chấp nội tâm giữa thiện ác bên trong gã.
Không phải sự thương hại mà chính tình yêu của cô đã cứu vớt gã lột xác
để trở thành con người theo cái nghĩa cao đẹp của nó.
Tuy không thuộc vào hàng ngũ các nhà văn lỗi lạc Mỹ, Paul Gallico đã
cho ra đời nhiều tiểu thuyết nổi tiếng: Jennie (1950), Thomasina (1957),
Những bông hoa dành cho Harris (1958)... Tác phẩm Paul Gallico mang
tính nhân đạo sâu sắc, hướng con người vào những vẻ đẹp bên trong, khơi
gợi ở mỗi người tình yêu chân chính và trách nhiệm cao cả.
Giới thiệu Paul Gallico, chúng tôi còn mong gửi tới bạn đọc một lối viết
trữ tình, dung dị, giàu chất thơ trong văn học Mỹ.
---Sở văn hoá thông tin Minh Hải---
https://thuviensach.vn
Con chim trốn tuyết
Trần Phong Giao & Hoàng Ưng dịch
[1]
Cánh đồng lầy mênh mông chạy dọc theo theo bờ duyên hải Essex , giữa
[2]
thôn Chelmbury và Wickaeldroth, một bến chài của dân Saxon ngày xưa .
Đây là miền hoang đại cuối cùng còn sót lại tại nước Anh, một miền sình
lầy, hẻo lánh đầy cỏ lác và lau sậy với những bãi cỏ ngợp nước trải dài tới
bên bờ những ruộng muối lớn. Những bãi bùn non và những vũng nước
thuỷ triều sát bên đại dương đầy sóng gió.
Những đường mương rạch do nước thuỷ triều xẻ vào nội đại và những
nhánh sông nhỏ lượn uốn quanh co trước khi tuôn ra biển cả, qua miền lầy
lội, mặt đất bập bềnh lên xuống như hô hấp theo nhịp thuỷ triều lên xuống
mỗi ngày. Cảnh tượng vắng vẻ, cho ta cảm giác càng thêm quạnh hiu bởi
tiếng kêu, tiếng gọi của loài dã điểu làm tổ trong những đầm lầy hay ruộng
muối những con ngỗng trời, những con hải âu, vịt trời, le le, cò lửa, cò
hương mò mẫm tìm mồi trên những hồ nước mặn. Còn sự hiện diện của
loài người thì không có, không thấy một ai, hiếm lắm mới thấy một người
lưới chim hoặc vài thổ dân mò sò, tới đó tiếp tục làm cái nghề đã cũ mèm
[3]
ngay từ hồi những người Normand đặt chân lên miền Hasting .
Màu xám, màu xanh và màu xanh lá cây nhạt là những màu nổi bật, bởi
vì suốt trong những mùa đông dài dằng dặc, nhiều vũng nước trên bãi biển,
trên đầm lầy phản chiếu ánh sáng lạnh lẽo và xám đen của bầu trời. Nhưng
đôi khi, vào buổi bình minh hoặc lúc hoàng hôn, màu trời sắc đất bực lên
như ánh lửa vàng, lửa đỏ.
Sát bên một nhánh quanh co của con sông Aelder nhỏ bé có một quãng
đê thuộc bức trường thành trấn giữ bờ biển ngày xưa, khúc đê nhẵn và kiên
cố, không một kẽ hở, đó là thành luỹ bảo vệ đất liền chống lại sự xâm lấn
của biển cả. Con đê chạy sâu vào tận hồ muối, sâu vào đất liền tới ba dặm
kể từ eo biển nước Anh, rồi từ đó rẽ theo hướng Bắc. Chính ở góc đó mặt
đê bị sóng biển nhồi vỗ đã rạn vỡ tan tành. Con đê bị chọc thủng và qua
https://thuviensach.vn
chỗ hổng, biển cả như con thú đói ùa vào tranh giành đất đai, cả bức trường
thành và cả những vật gì còn lại nơi đó.
Lúc thuỷ triều rút, trơ ra những tảng đá vỡ màu xám đen, vết tích của
ngọn hải đăng hoang phế, nằm phơi trên mặt nước, lác đác quanh đó, tựa
như những cái phao cột xác chết, rải rác đầu những cây cọc của của một
[4]
hàng rào đã bị lúc xuống . Ngày xưa ngọn hải đăng nhô cao trên biển và
ánh đèn đã từng soi sáng dọc miền duyên hải Essex. Theo dòng năm tháng,
sóng biển soi đất lở dần, ngọn hải đăng hoá thành vô dụng.
Gần đây nó lại được dùng làm nơi trú ngụ của loài người. Có một người
đàn ông cô độc đến đó ở. Thân hình méo mó, nhưng tâm hồn anh tràn đầy
tình thương đối với các loài hoang thú bị săn đuổi. Trông anh thật xấu xí
nhưng chính anh lại là người tạo ra cái đẹp. Câu chuyện sau đây thuật về
chính chàng trai đó, và một cô bé đã tìm hiểu được chàng, tìm hiểu được
một vẻ đẹp nào đó tiềm ẩn bên trong cái thân hình thô kệch của chàng.
Đây không phải loại truyện có bố cục với những tình tiết nhịp nhàng hấp
dẫn. Cốt truyện được thu góp từ nhiều nguồn và từ nhiều người, một phần
dưới hình thức những mẩu chuyện vụn vặt của chính những người đã
chứng kiến những cảnh tượng khốc liệt và kỳ lạ. Rốt cuộc, biển cả đã trở lại
nguyên vị, bao phủ lên nơi chiến trận lớp sóng nhấp nhô, và bóng chim
trắng khổng lồ, hai đầu cánh đốm đen, cánh chim đã từng chứng kiến sự
việc từ đầu đến cuối, cũng đã quay về miền yên lặng huyền bí, cóng lạnh
của vùng Bắc cực, là nơi mà từ đó nó đã bay đi.
Vào cuối mùa xuân năm 1930, Philip Rhayader tìm đến ngọn hải đăng
hoang phế ở cuối sông Aelder. Chàng mua vọng đèn bỏ hoang cùng nhiều
mẫu đất lầy và đồng cỏ nước mặn quanh đó.
Chàng sống cô đơn và cặm cụi làm việc một mình quanh năm. Chàng là
hoạ sĩ chuyên vẽ chim và phong cảnh thiên nhiên. Vì nhiều lí do, chàng đã
trốn lánh khỏi xã hội loài người. Người ta có thể tìm ra một vài trong số
những lí do đó, trong những chuyến chàng xuống làng Chelmbury, nửa
tháng một kỳ để mua thực phẩm, phơi bày tấm thân lệch và bộ mặt đen đúa
https://thuviensach.vn
của chàng dưới những cái nhìn soi mói của dân làng. Bởi vì chàng gù lưng
và cánh tay trái có tật teo đi, cổ tay khoèo lại tựa như móng của loài chim.
Ít lâu sau dân làng dần quen với hình dáng kỳ quái của chàng, nhỏ nhung
đầy sức lực, quen dần với chiếc đầu vững chắc, tóc đen, râu rậm hơi tụt
xuống phía dưới chiếc gò bí hiểm mọc trên lưng chàng, quen dần với đôi
mắt sáng ngời, cánh tay hình móng chim, và đối với họ chàng trở thành
“anh chàng vẽ tranh kỳ quái sống ở hải đăng”.
Hình thù quái dị thường làm người có tật hận thù loài người. Nhưng
Rhayader không hề thù hận! Chàng thương yêu tha thiết con người, mọi
loài muông thú và cảnh vật thiên nhiên. Tâm hồn chàng tràn đầy lòng
thương xót và sự cảm thông. Chàng đã làm chủ được điều bất hạnh, nhưng
chàng không sao chế ngự nổi sự hắt hủi phải gánh chịu, sự hắt hủi gây ra
bởi hình thù quái dị của chàng. Sự kiện dồn chàng đến thế ẩn dật là sự thất
bại không tìm thấy nơi đâu sự đền đáp lại mối cảm tình nồng nàn từ nội
tâm chàng tuôn trào ra. Phụ nữ lẩn tránh chàng. Còn đàn ông có thể đối tốt
với chàng, nếu họ hiểu chàng. Nhưng chỉ nghĩ rằng người đó phải cố gắng
mới hiểu được chàng cũng khiến chàng tủi hổ và cũng đủ để chàng lánh xa
kẻ ấy.
Năm chàng đến vùng đồng lầy chàng đã hai mưoi bảy tuổi. Chàng đã đi
du lịch khá nhiều nơi và đã chiến đấu một cách anh dũng trước khi đi đến
quyết định rút lui ra khỏi cái thế giới mà chàng không có chỗ đứng như
những người đàn ông khác. Ngoài sự nhạy cảm của người nghệ sĩ và sự
hiền dịu đầy phụ nữ tính chứa chất trong lồng ngực căng phồng, chàng
cũng đàn ông như ai.
Trong cuộc sống ẩn dật, chàng còn có chim chóc, hội hoạ và cánh thuyền
buồm. Chàng có một chiếc thuyền dài mười sáu bộ, mà chàng sử dụng rất
tài tình. Những lúc một mình, không bị ai dòm ngó xét nét, chàng điều
khiển nó rất khéo léo bằng bàn tay có tật, chàng cũng thường vận dụng đến
hai hàm răng vững chắc để điều chỉnh những cánh buồm bập bùng khi gặp
cơn gió chướng.
https://thuviensach.vn
Chàng thường thả thuyền dọc theo con lạch hay chạy ra khơi, mỗi lần
chàng đi tới mấy ngày liền, tìm kiếm những loài chim mới để chụp ảnh hay
vẽ phác và chàng cũng lưới được chim khá thiện nghệ để tăng thêm cho
bầy hoang điểu mà chàng thu thập về nuôi trong chiếc chuồng dựng bên
phòng vẽ vốn là trung tâm ở ẩn của chàng.
Chàng không hề bắn chim bao giờ và chàng không chịu cho những người
săn chim lại gần khu vực chàng ở. Chàng là bạn thân của mọi loài chim
hoang dã và chúng cũng đền đáp lại chàng bằng tình thân hữu.
Thuần thục trong khu vườn nhà chàng có giống ngỗng hoang hàng năm
cứ đến tháng Mười lại từ miền Băng-đảo và từ quần đảo Spitbergen bay
dọc duyên hải mà xuống, từng bầy lớp rợp trời và thinh không rào rào tiếng
cánh vỗ mỗi khi chúng bay ngang - những con ngỗng thân lông nâu, chân
mầu hồng, ngực lông trắng với những chiếc cổ lông đen và bộ mặt ngộ
nghĩnh, những con hải âu lông trắng ngực có sọc đen và nhiều loại vịt trời,
le le, mòng két, mòng đốc…
Vài con được xén lông cánh ở lại làm chim hiệu và mỗi đầu mùa đông
chúng sẽ nhử những loài hoang điểu dừng cánh nơi đây là chỗ trú ẩn an
toàn và sẽ có miếng ăn.
Hàng trăm con đã đến và ở với chàng suốt mùa đông lạnh buốt từ tháng
Mười cho mãi tới đầu xuân, khi chúng lại di chuyển về phương Bắc, trở về
đất tổ của chúng, gần bên những vòm băng đá.
Rhayader thấy mãn nguyện khi biết rằng dù cho bão táp có dập vùi, sự
lạnh buốt có nghiệt ngã và mồi ăn có khan hiếm hay những cây súng lớn
mũi nhọn của những người thợ săn đeo túi đựng thú ở xa có nổ, thì những
con chim của chàng vẫn bình an - những con chim mà chàng đã tụ tập vào
nơi an toàn dưới sự bảo trợ của đôi cánh tay và con tim chàng, những con
chim hoang dã hiểu biết và đã đặt lòng tin cậy nơi chàng.
Vào xuân chúng sẽ đáp lại tiếng gọi của quê hương miền bắc, nhưng
sang thu chúng sẽ trở lại, trở lại kêu la rối rít, tru tréo om sòm, huyên náo
cả vòm trời thu muộn, lượn quanh ngọn hải đăng xưa cũ rồi cùng hạ cánh
https://thuviensach.vn
xuống gần đấy để lại đóng vai khách quý của chàng - những con chim mà
chàng còn nhớ rõ là đã nuôi chúng từ năm trước.
Và điều này khiến Rhayader sung sướng, bởi vì chàng biết rằng ẩn bên
trong chúng có mầm mống tri giác về sự có mặt và nơi ẩn náu an toàn của
chàng, rằng sự tri giác này đã tham dự vào cuộc đời chúng để mỗi khi bầu
trời trở xám và gió bấc thổi lộng chúng sẽ tìm lại với chàng không hề lầm
lẫn.
Ngoài ra chàng để hết tâm trí vào việc vẽ lại cảnh vật nơi chàng đang
sống cùng những sinh vật trong miền. Không có nhiều tranh của Rhayader
ngoài thị trường. Chàng say sưa giữ lại, chồng chất chúng trong hải đăng,
và xếp đống ở những tầng trên có tới hàng trăm bức. Chàng không hài lòng
về chúng, vì người nghệ sĩ vốn không mấy khi mãn nguyện về những gì
mình sáng tạo.
Nhưng vài bức đến tay người thưởng ngoạn đều là những kiệt tác, tràn
ngập nguồn sáng và màu sắc từ mặt nước loáng lên, từ những cánh chim
bay rung động toả xuống, từ sự gắng gỏi mãnh liệt của những cánh chim
bay ngược luồng gió sớm mai đang thổi rạp những ngọn lau lớn xuống.
Chàng diễn tả vẻ cô tịch và bầu khí lạnh đượm vị muối, sự vĩnh cửu, vẻ
thiên thu của cánh đồng lầy, những sinh vật hoang dã, những đàn chim bay
trong bình minh, hoặc thảng thốt vút lên bầu trời và những bóng chim xoải
cánh bay trong đêm lẩn trốn ánh trăng.
Vào một buổi chiều tháng Một, ba năm sau khi Rhayader đến ở vùng
Đồng lầy, có một cô bé lại gần phòng vẽ trong hải đăng, qua lối bờ đê. Hai
tay cô ôm khư khư một gói nặng.
Cô bé trạc mười hai tuổi, mảnh mai, lem luốc, lo lắng và nhút nhát như
một con chim, nhưng dưới vẻ lọ lem ấy cô ta đẹp kỳ lạ như một nàng tiên
của vùng Đồng lầy. Cô là giống người Saxon thuần túy, to xương, da trắng
mịn, với một chiếc đầu còn lớn hơn so với thân hình và đôi mắt thăm thẳm
màu tím sẫm.
Cô bé vô cùng khiếp sợ người đàn ông xấu xí mà cô phải đến gặp, vì một
huyền thoại về Rhayader đã bắt đầu hình thành, và những người thổ dân ưa
https://thuviensach.vn
săn bắn đâm ra thù ghét chàng vì chàng đã cản trở môn thể thao ưa thích
của họ.
Nhưng vượt trên nỗi sợ hãi ấy là tình cảnh nguy khốn của sinh vật mà
em đang ấp ủ trên tay. Trong trái tim bé nhỏ của em, đã gắn sâu sự hiểu
biết, nhờ nghe người ta đồn đãi quanh vùng, rằng con ngáo ộp sống trong
hải đăng có bùa phép chữa lành những thú vật bị thương.
Trước đó chưa bao giờ cô bé nhìn thấy Rhayader và cô suýt hoảng hốt bỏ
chạy trước bóng dáng chàng xuất hiện nơi khung cửa phòng vẽ, khi nghe
tiếng chân người lại gần - một sự hiện hình dễ sợ với chiếc đầu bù xù và bộ
râu đen, chiếc lưng gù buồn thảm và cánh tay khoèo hình móng chim.
Cô bé đứng sững lại, nhướng mắt nhìn chằm chặp hơi sẵng như một con
chim nhút nhát dưới đồng lầy sẵn sàng cất cánh bay xa.
Nhưng khi chàng lên tiếng, giọng chàng thật trầm và thân thiện:
“Có chuyện gì đấy em?”
Cô bé vẫn không bớt sợ hãi, rụt rè bước tới. Vật mà cô bé ôm trong cánh
tay là một con chim lớn màu trắng, con vật nằm bất động. Có những vệt
máu trên bộ lông trắng và trên chiếc áo của cô bé nơi mảnh vải dùng để lót
con chim.
Cô bé đặt con chim vào đôi cánh tay chàng.
“Thưa ông, em bắt gặp nó, nó bị thương. Nó còn sống, phải không ông?”
“Đúng. Đúng đấy, tôi cũng nghĩ vậy. vào đây, vào đây em”.
Rhayder mang con chim vào trong nhà, đặt nó lên bàn, và con vật yếu
đuối cựa mình. Tính tò mò lước thắng sự sợ hãi, cô bé vào theo và thấy
mình ấm hẳn lên trong căn phòng có ngọn lửa than đốt để sưởi, căn phòng
sáng rực lên dưới những bức tranh màu treo la liệt trên tường, và tràn ngập
một mùi hương là lạ nhưng dễ chịu.
Con chim vẫy cánh. Với bàn tay lành lặn, Rhayader trải rộng một trong
hai chiếc cánh trắng lớn ra. Bầu cánh có đốm đen rất đẹp.
Rhayader trầm trồ ngắm nghía và hỏi:
“Này em! Em thấy nó ở đâu đấy?”
https://thuviensach.vn
“Ở trong đồng lầy, ông ạ, nơi những tay thợ săn đi qua. Loại chim gì ông
nhỉ?”
“Loại ngỗng trốn tuyết gốc Canada. Mà tại sao nên nông nỗi này?”
Tên con chim hình như chẳng có ý nghĩa gì đối với cô gái bé nhỏ. Đôi
mắt thăm thẳm màu tím sẫm sáng lên làm át cả vẻ lem luốc của khuôn mặt
gầy đét, chăm chú nhìn con vật bị thương đầy vẻ lo âu.
Cô bé hỏi:
“Liệu ông có chữa cho nó lành được không?”
“Được, được chứ”, Rhayader đáp. “Chúng ta thử xem sao. Lại đây, em
giúp tôi một tay nhé”.
Trên chiếc kệ có sẵn kéo, băng và nẹp gỗ để tháp xương bị gãy, và mặc
dù có tật, chàng khéo tay lạ thường, ngay cả cánh tay khoèo hình móng
chim cũng vậy, cầm vật dụng rất tài.
Chàng nói: “Tội nghiệp, cô ả bị đạn bắn trúng đây. Cẳng bị gãy rồi, đầu
cánh cũng vậy, nhưng không đến nỗi nặng lắm. Xem nào, mình phải xén
lông cánh mới băng bó được, nhưng sang xuân rồi lông cánh sẽ mọc lại và
cô ả sẽ lại bay được. Mình sẽ cột chặt cánh vào thân, và như vậy cô ta sẽ
không cựa quậy đôi cánh được cho tới khi lành hẳn. Kế đó mình sẽ bó chỗ
chân cô ả bị đau”.
Cô bé quên cả sợ, say sưa theo dõi việc làm của chàng, một phần cũng vì
chàng vừa bó chiếc chân chim gãy vừa kể cho cô nghe một câu chuyện kỳ
diệu.
Con chim còn non, chưa tròn một tuổi. Nó sinh ra ở đất bắc xa xôi, cách
mấy trùng biển cả trên một lãnh địa thuộc vương quốc Anh Cát Lợi. Nó
bay về phương nam để trốn tuyết, trốn băng giá, trốn làn khí lạnh rợn
người, một cơn bão lớn đã vồ lấy nó, đã cuốn nó vào những đợt cuồng
phong. Một trận bão thật kinh khủng, mạnh gấp bội đôi cánh lớn của nó, và
mạnh hơn bất cứ sức mạnh nào. Ròng rã nhiều đêm và nhiều ngày, trận bão
đã xua đuổi nó, không ngừng nghỉ và con chim mắc kẹt không thể làm
được gì hơn là nương bay theo luồng gió cuốn. Sau cùng cơn bão tan dần
và bản năng tinh tường lại dẫn nó bay theo về hướng nam, nó đã tới một
https://thuviensach.vn
miền đất xa lạ và quanh nó toàn giống chim lạ mà trước đó nó chưa hề thấy.
Sau cùng, mệt lả vì đuối sức, nó sà xuống nghỉ trên cánh đồng xanh thân
thuộc để rồi được viên đạn của người đi săn tiếp đón.
“Một lối tiếp rước tàn nhẫn đối với một vị công chúa từ nơi xa tới viếng
thăm”, Rhayader kết luận. “Mình sẽ gọi cô ta bằng biệu hiệu “La Prrincesse
Perdue” – Nàng công chúa lạc loài. Rồi chỉ ít ngày sau nàng sẽ khá hẳn đó.
Coi nào!” Chàng thọc tay vào túi lấy ra một nắm hạt. Con ngỗng trốn tuyết
mở tròn đôi mắt ra và bắt đầu rỉa mồi.
Cô bé cất tiếng cười thích thú, rồi bỗng nín thở khi chợt nhận ra nơi chốn
cô ta đang ở, và không nói nửa lời cô bé quay mình chạy vọt ra khỏi cửa.
“Đợi chút, đợi một chút!” Rhayader la lên và chạy theo ra cửa. Chàng
đứng lại nơi ngưỡng cửa và khuôn cửa đóng khung lấy hình thù dềnh dàng
của chàng. Cô bé đã thoát ra tới bờ đê ven biển rồi, nhưng nghe tiếng gọi
thì dừng lại.
“Này em, em tên là gì nhỉ?”
“Frith”.
“Hả?” Rhayader hỏi. “Tôi chắc là Fritha mới đúng. Thế em ở đâu?”
“Với dân chài dưới bến Wickaeldroth”. Cô bé đọc tên ấy bằng giọng
Saxon thật xưa.
“Mai hay mốt em có lại thăm sức khoẻ nàng Công chúa hay không?”
Cô bé không trả lời ngay khiến Rhayader lại liên tưởng đến những con
chim hoang dưới đầm lầy khi hoảng sợ thường bất động trong khoảng một
phần mười giây trước khi vỗ cánh bay xa.
Nhưng giọng nói trong trẻo mà yếu ớt của cô bé lại vọng tới chàng: “Có
chứ!”
Và rồi cô bé bỏ chạy, mái tóc hung vàng tha thướt tung bay trước gió.
Con ngỗng trốn tuyết bình phục mau lẹ, khoảng giữa mùa đông nó đã tập
tễnh đi trong khu đất có hàng rào, hay nhập bọn với những con ngỗng
hoang chân hồng, chứ không đi với bọn lông nâu, và nó cũng biết chạy lại
tìm ăn mỗi khi Rhayader lên tiếng gọi. Và cô bé, Fritha, hay Frith, là người
https://thuviensach.vn
khách thường xuyên lui tới. Cô bé không còn sợ hãi Rhayader nữa. Trí
tưởng tượng của cô bị thu hút bởi sự hiện diện của nàng công chúa áo trắng
kỳ ngộ đến từ miền đất lạ cách mấy trùng dương, miền đất toàn màu hồng
trên tấm bản đồ mà Rhayader đã chỉ cho em xem, trên đó hai người dựng
lại cuộc hành trình vất vả mà cánh chim lạc lõng trong cơn gió bão đã vượt
quakể từ khi rời quê hương trên đất Canada để đến miền Đồng lầy rộng lớn
trên duyên hải Essex.
Rồi một buổi sáng tháng Sáu một bầy ngỗng chân hồng cuối cùng, no nê,
mập mạp sau suốt mùa đông ở hải đăng, nghe theo tiếng gọi thôi thúc của
miền đất xanh tươi, uể oải bay lên theo vòng trôn ốc mỗi lúc một rộng. Lẫn
trong đàn chim đó, rực sáng trong ánh nắng xuân tươi, là thân lông trắng
tuyền với hai đầu cánh lớn đốm đen của con chim trốn tuyết. Sự việc xảy ra
vào lúc Frith có mặt ở hải đăng. Tiếng kêu của cô bé khiến Rhayader từ
trong phòng vẽ nhảy bổ ra.
“Coi kìa! Coi kìa! Nàng công chúa! Bộ nàng cũng bỏ đi hay sao?”
Rhayader ngước nhìn lên trời dõi theo những chấm đen di chuyển.
“Chà!” chàng nói, bất giác dập theo lời cô bé. “Nàng công chúa hồi hương!
Lắng tai mà nghe, nàng đang từ giã chúng ta đó!”.
Từ trên vòm trời trong vắt vọng xuống tiếng kêu ai oán của những con
ngỗng chân hồng, và nổi bật lên trên, cao hơn, trong hơn, là tiếng của con
chim trốn tuyết. Những chấm đen di chuyển theo hướng Bắc, kết thành
hình chữ V nhỏ dần, rồi mất hút.
Từ bữa con chim trốn tuyết ra đi, Frith không lui tới vọng hải đăng nữa.
Rhayader lại một lần nữa thấm thía ý nghĩa của hai chữ “cô đơn”.
Mùa hè năm ấy, moi trong ký ức, chàng vẽ lại hình dáng thanh thanh của
cô bé, mặt lem luốc, mái tóc hung vàng bồng bềnh trong gió lộng tháng
chín, trong tay ghì chặt con chim trắng bị thương.
Vào giữa tháng mười, có một chuyện lạ xảy ra. Lúc đó Rhayader đang
đứng trong khu đất có hàng rào cho chim ăn. Gió đông bắc gây gấy lạnh và
mặt đất rầm rì dưới làn nước thuỷ triều dâng. Vượt lên trên tiếng sóng biển
và tiếng gió rì rào, chàng chợt nghe, có tiếng kêu lanh lảnh, cao vút. Chàng
https://thuviensach.vn
ngước mắt nhìn lên vòm trời chiều vừa đúng lúc để trước hết thấy một
chấm đen nhỏ xíu, rồi thấy ảo ảnh một giấc mơ đen trắng chập chờn xuất
hiện, nó lượn quanh hải đăng một vòng, rồi, sau chót, một cánh chim thực
hạ cánh xuống đất ngay chỗ chuồng chim rồi đường bệ tiến lên đòi ăn như
thể nó chưa hề bỏ đi xa bao giờ. Đó chính là con chim trốn tuyết, không thể
nào lầm lẫn được. Nó đã đi đâu? Chắc chắn là không thể bay về tổ nó bên
Canada. Không, chắc chắn là nó đi nghỉ hè ở Greenland hay Spitzbergen
với những con ngỗng chân hồng. Nó đã nhớ và đã trở lại.
Kỳ tới xuống thôn Chelmbury mua lương thực, chàng nhờ cô trưởng
trạm bưu điện nhắn tin giùm và điều đó đã khiến cô ta ngạc nhiên không ít.
Chàng nói: “Phiền cô làm ơn nói lại với Frith, cô bé ở dưới xóm chài
Wickaeldroth, rằng Nàng công chúa đi lạc đã trở lại”.
Ba hôm sau, Frith, to lớn hơn, nhưng áo quần vẫn xốc xếch, tóc rối, bẽn
lẽn tìm đến hải đăng để thăm nàng công chúa.
Thời gian trôi qua. Trên vùng đồng lầy, bước đi của thời gian được đánh
dấu bởi sự lên xuống của nước thủy triều, nhịp đi chầm chậm của bốn mùa,
sự di chuyển của chim muông, và, riêng đối với Rhayader, sự đến và đi của
con chim trốn tuyết.
Thế giới bên ngoài xao động, bùng sôi và gầm gừ dưới áp lực của một
mãnh lực nào đấy, không bao lâu sau đã bùng nổ và đưa thế giới đến bên
bờ sự hủy diệt. Nhưng mãi tới lúc đó, Rhayader vẫn chưa chịu ảnh hưởng
của thời cuộc, và cả Frith cũng thế. Ngay cả khi cô bé đã khôn lớn, hai
người vẫn hoà hợp tự nhiên một cách lạ thường. Khi con chim trốn tuyết có
mặt tại hải đăng thì chính cô bé cũng lại lui tới để thăm viếng và học hỏi
Rhayader được nhiều điều. Hai người ra biển chơi trên chiếc thuyền buồm
chạy nhanh mà chàng điều khiển rất tài tình. Họ lưới chim hoang để tăng
thêm cố chim đang nuôi, và dựng thêm hàng rào, mở thêm sân che chở cho
chúng. Nhờ chàng, cô bé học hỏi được nhiều điều về đủ loại dã điểu, từ loài
hải âu tới giống chim ưng bay lượn trên vùng đồng lầy. Thỉnh thoảng cô bé
nấu ăn cho chàng và đôi khi cô còn tập pha sơn vẽ nữa.
https://thuviensach.vn
Nhưng hễ con chim trốn tuyết bay về vùng cư ngụ mùa hè thì mọi
chuyện lại xảy ra như thể có một hàng rào ngăn cách giữa hai người và cô
gái không lui tới hải đăng nữa. Có một năm con chim không trở lại và
Rhayader buồn khôn tả xiết. Chàng như có cảm tưởng mọi sự đã hết trong
đời chàng. Chàng vẽ như điên suốt mùa đông và mùa hè sau đó, và không
hề gặp mặt cô bé một lần nào. Nhưng vào thu, tiếng kêu thân thuộc lại vang
trên thinh không, và cánh chim trắng khổng lồ, bây giờ đã lớn hết cỡ, từ
trời cao hạ xuống cũng bí mật như lúc nó ra đi. Mừng rỡ, Rhayader dong
thuyền xuống Chelmbury để nhờ cô trưởng trạm bưu điện nhắn tin giùm.
Lạ thay, lần này sau khi nhắn tin phải đợi tới hơn một tháng trời Frith
mới xuất hiện và Rhayader kinh ngạc đến sững người khi nhận thấy cô ta
không còn là một cô bé nữa.
Và sau cái năm con chim không tới ấy, thời hạn nó vắng mặt càng lúc
càng thu ngắn lại. Nó đã trở nên dạn dĩ đến nỗi lúc nào nó cũng quấn quít
theo Rhayader và nó dám vào cả trong phòng vẽ những lúc chàng đang làm
việc.
Mùa xuân năm 1940 bầy di điểu rời khỏi vùng đồng lầy sớm hơn thường
lệ. Thế giới đã lâm chiến. Tiếng gầm rú của máy bay phóng pháo và tiếng
nổ ì ầm của bom đạn làm chúng khiếp đảm. Hôm mồng một tháng năm,
Frith và Rhayader đứng vai kề vai bên bờ đê ven biển theo dõi những đốm
cánh cuối cùng của đán ngỗng chân hồng cánh không bị xén và những con
ngỗng hoang lông nâu cất cánh bay lên từ nơi chúng trú ẩn. Cô gái thì cao,
dáng thanh tú, thảnh thơi như gió thoảng, vẻ đẹp mê hồn. Chàng thì đen
đúa, thô kệch, cái đầu râu tóc bù xù ngước nhìn lên trời, đôi mắt đen lóng
lánh theo dõi đàn chim bay thành hàng.
“Coi kìa, Philip”, Frith gọi.
Rhayader nhìn theo hướng mắt của cô gái. Con chim trốn tuyết đã cất
cánh, đôi cánh lớn xoè ra, nhưng nó bay thấp và có lúc bay sát chỗ hai
người đứng, sát đến nỗi hai đầu cánh đen gần như quệt vào người họ, và họ
cảm thấy luồng gió mạnh của lớp cánh chim tạt vào người. Một lần, rồi hai
https://thuviensach.vn
lần, con chim lượn quanh hải đăng, rồi hạ cánh trong sân, nơi có những con
ngỗng bị xén lông cánh còn ở lại, và bắt đầu nhặt mồi ăn thong thả.
“Nó không đi nữa”, Frith nói, đầy vẻ kinh ngạc trong giọng cô gái. Cánh
chim trong lúc bay sà xuống sát bên cô dường như đã đem đến cho cô một
niềm phấn khởi kỳ diệu “Nàng Công Chúa sẽ ở lại”.
“Phải”, Rhayader đáp, và giọng nói của chàng run lên vì cảm động.
“Nàng sẽ ở lại, Nàng sẽ không đi nữa. Nàng Công Chúa đi lạc sẽ không còn
đi lạc nữa. Từ nay nơi đây là quê hương của nàng- quê hương do nàng tự ý
chọn lựa”.
Sức quyến rũ mà cánh chim vấn chung quanh cô gái bị rạn vỡ và Frith
bỗng ý thức được sự kiện là cô bị kinh hoàng, và nguyên nhân gây nên sự
sợ hãi ấy chính là đôi mắt Rhayader - sự van lơn cầu khẩn, nỗi cô đơn và
tất cả những gì thầm kín, sâu xa, sôi động đều tiềm ẩn bên trong và bên trên
tia mắt ấy, lúc chàng ngước nhìn cô.
Những lời chàng vừa nói cứ lập lại trong đầu cô gái tựa như chính chàng
vừa nhắc lại: “Từ nay nơi đây là quê hương của cô – cô tự ý chọn lựa”. Bản
năng hền dịu của Frith đã làm Rhayader xao xuyến và làm cho cô hiểu
được những ý nghĩ thầm kín mà vì mặc cảm tật nguyền, xấu xí, chàng đã
không thể nói được nên lời. Và vì lời nói của chàng có sức phủ dụ, cô lại
càng thêm hoảng sợ trước sự yên lặng cùng mãnh lực của những gì không
nói ra giữa hai người. Bản năng đàn bà trong cô như thôi thúc cô bỏ chạy
trước một sự việc nào đó mà cô chưa đủ khả năng hiểu thấu.
Frith lắp bắp: “Em – em phải về. Thôi chào ông. Em cũng vui là – là
nàng công chúa sẽ ở lại. Từ đây ông không cô đơn lắm nữa”.
Cô gái quay lưng, thoăn thoắt bước đi và chỉ thoáng nghe thấy lời chào
buồn thảm “Chào em, Frith”, mơ hồ như tiếng ma, lạc trong tiếng gió thổi
rì rào trên đồng cỏ hoang. Đi được một thôi dài rồi cô mới dám liếc mắt
nhìn trở lại phía sau. Chàng vẫn đứng trên bờ đê, một chấm đen nhỏ in trên
nền trời bao la.
Cơn sợ hãi bấy giờ mới tan. Nó nhường chỗ cho một cái gì khác, một
cảm giác mất mát là lạ, cảm giác đó mạnh đến nỗi khiến cô đứng sững lại
https://thuviensach.vn
hồi lâu. Rồi, bước đi chậm chạp hơn, cô tiếp tục rời xa dần ngọn hải đăng
mọc chĩa lên nền trời như một ngón tay, tiếp tục rời xa dần người đàn ông
đứng ở phía dưới.
Sau đó có đến ba tuần Frith mới trở lại hải đăng. Tháng Năm đã gần hết,
và ngày hôm đó, ngày cũng dần tàn, vào lúc hoàng hôn đang nhường dần
chỗ cho màu trắng bạc của vầng trăng đã treo lơ lửng trên vòm trời phía
đông.
Cô gái tự nhủ, trong lúc tiến bước, rằng cô cần phải tới xem con chim
trốn tuyết có còn ở lại đúng như lời Rhayader đã nói hay không. Rất có thể
là rốt cuộc nó đã bay đi. Những bước đi vững chắc của cô trên mặt đê thật
là hăng hái và đôi lúc bất giác cô chợt nhận ra mình đang rảo bước đi mau.
Frith nhìn thấy ánh lửa vàng của chiếc đèn lồng ở dưới bến riêng của
Rhayader và cô xuống gặp chàng dưới đó. Chiếc thuyền buồm của chàng
nhè nhẹ đung đưa trên ngọn nước triều dâng và chàng đang chất lương thực
lên thuyền - nước ngọt, thức ăn khô, mấy chai rượu mạnh, đồ dùng trên
thuyền và một cánh buồm phòng hờ. Khi chàng quay lại vì nghe tiếng chân
cô đến gần, cô thấy vẻ mặt chàng tái nhợt, nhưng đôi mắt đen lúc bình
thường vốn rất ư dịu dàng, đang sáng ngời lên vì cảm kích, và chàng thở
hào hển vì mệt nhọc.
Frith bỗng nhiên cảm thấy lo sợ. Con chim trốn tuyết bị lãng quên rồi.
“Philip! Bộ anh dọn đi nơi khác à?”
Rhayader ngừng tay để chào đón cô gái, và trên gương mặt chàng thoáng
hiện một vẻ gì khác thường - một sắc diện hớn hở mà trước đó cô chưa
từng thấy bao giờ.
“Frith! Tôi mừng vì em đến đúng lúc. Vâng, tôi phải đi. Một chuyến đi
ngắn ngủi. Rồi tôi sẽ trở về”. Giọng nói của chàng thường nhật dịu dàng,
bữa nay trở nên khàn khàn vì chàng đã cố gắng rõ rệt để chế ngự cơn xúc
động trong nội tâm.
Frith hỏi: “Anh phải đi dâu chứ?”
[5]
Rhayader vồn vã kể. Chàng phải đi Dunkerque .
https://thuviensach.vn
Cách chừng một trăm dặm bên kia bờ biển phía Bắc, một đạo binh Anh
mắc bẫy ở đó, trên bãi cát, đang chờ bị tiêu diệt bởi bàn tay quân Đức đang
tiến tới. Hải cảng ngùn ngụt bốc cháy, tình cảnh thật tuyệt vọng. Chàng
nghe được tin ấy khi chàng xuống dưới làng mua lương thực. Nhiều người
đã đáp lại lời kêu gọi của chính phủ rời bến Chelmbury với đủ thứ tàu: tàu
kéo hàng, tàu đánh cá hay xuồng máy, miễn là máy còn chạy nổi đều được
kéo ra khỏi cảng, vượt eo biển để lôi binh sĩ ra khỏi bãi biển, chở họ đến
những tàu vận tải hay những chiến hạm lớn không vào được chỗ đó. Dân
chúng cố gắng cứu sống càng nhiều càng hay số binh sĩ Anh thoát khỏi làn
mưa đạn của quân Đức.
Frith lắng nghe và cảm thấy lòng mình buồn như muốn chết. Chàng cho
biết là chàng sẽ vượt qua eo biển trên chiếc thuyền buồm nhỏ của chàng.
Nó có thể chở được sáu người mỗi chuyến, nếu cần thì bảy người. Chàng
có thể chở nhiều chuyến từ bãi biển ra tàu vận tải đậu ngoài khơi.
Cô gái còn trẻ, chất phác, vụng dại. Em chưa hiểu gì về chiến tranh, hoặc
về những gì đang xảy ra trên đất Pháp, hoặc về ý nghĩa sự mắc bẫy của
đoàn quân Anh, nhưng do linh tính cô gái cũng biết ở nơi xa xôi đó thật
nguy hiểm.
“Philip! Anh đi thật sao? Anh sẽ không về được đâu. Mà sao anh lại phải
đi?”
Cơn hăng say đang bồng bột trong tâm hồn chàng tưởng chừng tan biến
trước đợt đầu tiên của những câu nói và chàng cố giải thích bằng những lời
lẽ mà cô gái có thể hiểu được.
Chàng nói: “Binh sĩ bị lùa ra bãi biển giống như những con chim bị săn
đuổi, Frith ạ, như những con chim bị săn và bị thương mà chúng mình vẫn
thường bắt gặp và đưa về nơi trú ẩn. Bay lượn trên họ là một bầy chim
bằng thép, những con diều hâu, chim ưng, kên kên, và họ chẳng biết nấp
vào đâu để tránh những con chim sắt săn mồi ấy. Họ bị thua, bị bão táp dồn
đuổi, bị đe doạ như nàng công chúa đi lạc mà em đã bắt gặp trong đầm lầy
và mang đến cho tôi nhiều năm trước, và chúng ta đã cùng lo chạy chữa.
Cũng như bầy hoang điểu của chúng ta, những người lính đó cần được giúp
https://thuviensach.vn
đỡ, em ạ. Và vì thế mà tôi phải đi, đó là điều mà tôi có thể làm được. Đúng,
tôi làm được mà. Ít ra là một lần - phải, ít ra là một lần tôi có dịp chứng tỏ
mình là đàn ông và có thể đảm nhận trách nhiệm của mình”.
Frith nhìn Rhayader trừng trừng. Chàng như đã hoá thân. Lần đầu tiên cô
gái thấy chàng không còn xấu xí, tật nguyền nữa, trái lại chàng rất đẹp.
Trong tâm hồn cô cũng sôi sục bao nhiêu điều muốn được nói nên lời,
nhưng cô không biết nói thế nào.
“Philip! Em sẽ đi cùng với anh!”
Rhayader lắc đầu: “Em...
 





