TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Ngay_hoi_sach_5.jpg Ngay_hoi_sach_4.jpg Ngay_hoi_sach_3.jpg Ngay_hoi_sach_2.jpg Ngay_hoi_sach_14.jpg Ngay_hoi_sach_11.jpg Ngay_hoi_sach_1.jpg Video_tranh_ve_tranh_theo_sach.flv Cham_khac_go_Dong_Giao_3.jpg Cham_khac_go_Dong_Giao_2.jpg Cham_khac_go_Dong_Giao_1.jpg Cham_khac_go_Dong_Giao.jpg Vang_bac_Chau_Khe_1.jpg Vang_bac_Chau_Khe.jpg Gom_Chu_Dau_3.jpg Gom_Chu_Dau_2.jpg Gom_Chu_Dau_1.jpg Gom_Chu_Dau.jpg Banh_dau_xanh_Hai_Duong__Bao_Hien.jpg Banh_dau_xanh_Hai_Duong_2.jpg

    VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH/ HOẠT ĐỘNG CỦA

    TOÁN TIỂU HỌC

    Giới thiệu sách tháng 12 - Trường Tiểu học Ngọc Châu

    Giá trị học

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 19h:20' 20-04-2024
    Dung lượng: 2.4 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Table of Contents
    Giá trị học
    Lời nói đầu
    Bài mục thứ nhất
    Bài mục thứ hai
    Bài mục thứ ba
    Bài mục thứ tư
    Bài mục thứ năm
    Bài mục thứ sáu
    Bài mục thứ bảy
    Bài mục thứ tám
    Bài mục thứ chín
    Bài mục thứ mười
    Bài mục thứ mười một
    Bài mục thứ mười hai
    Bài mục thứ mười ba
    Bài mục thứ mười bốn
    Bài mục thứ mười năm
    Bài mục thứ mười sáu
    Bài mục thứ mười bảy
    Bài mục thứ mười tám
    Bài mục thứ mười chín
    Bài mục thứ hai mươi
    Bài mục thứ hai mươi mốt
    Bài mục thứ hai mươi hai
    Bài mục thứ hai mươi ba
    Bài mục thứ hai mươi tư
    Kết luận

    PHẠM MINH HẠC

    GIÁ TRỊ HỌC
    Bản quyền tiếng Việt © 2012 Phạm Minh Hạc và Công ty Sách Alpha

    NHÀ XUẤT BẢN DÂN TRÍ
    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    Lời nói đầu
    Thật là một ngẫu nhiên hiếm có, một may mắn lớn cho tôi làm một số công việc cuối cùng của
    cuốn sách này vào các dịp kỉ niệm:
    - 1000 năm Thăng Long – Hà Nội
    - 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
    - 65 năm ngày thành lập nước VNDCCH nay là CHXHCNVN
    - 56 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
    - 35 năm ngày hoàn toàn giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.
    Các sự kiện lịch sử trọng đại này rất gắn bó với nhau trong dòng giá trị tinh thần bất diệt của
    dân tộc. Và mỗi một chúng ta, trong đó có tác giả các dòng chữ này, là một thành phần, đều có
    quan hệ keo sơn với các giá trị bất hủ của những chiến công thần thánh đem lại cho chúng ta
    cuộc sống ngày hôm nay. Tác giả cuốn sách xin được bày tỏ lời cảm ơn vô cùng sâu sắc tới Bác
    Hồ, Đảng và Nhà nước cùng nhân dân Việt Nam và Liên Xô (cũ) đã đào tạo tôi thành một cán
    bộ khoa học, các anh hùng, liệt sĩ, thương binh, các bà mẹ anh hùng, các chiến sĩ, nhất là các
    bạn cùng trang lứa, trong đó có các nhà giáo đi B và các nhà giáo kháng chiến trong vùng địch
    tạm chiếm, đồng bào đã hy sinh thân mình hoặc một bộ phận thân thể, đã chịu đựng những
    năm tháng biết bao gian khổ cực kỳ mà ngày nay không thể tưởng tượng nổi, cho nền độc lập,
    thống nhất Tổ quốc, cuộc sống hoà bình, an vui, hạnh phúc, cho nền giáo dục nhân dân, nền
    khoa học nước nhà từng bước sánh vai với bạn bè năm châu, bốn biển, như Bác Hồ hằng mong
    ước. Nước nhà không được như ngày nay, chắc khó có tác phẩm này. Tác giả hy vọng có đóng
    góp nhỏ, dù chỉ như hạt cát, giữ gìn và phát triển, phát huy các giá trị của dân tộc và con người
    Việt Nam.
    Tôi đi từ giáo dục học, tâm lý học đến với giá trị học trong thời điểm nhấn mạnh hơn bao giờ
    hết đường lối “giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại” và cũng là lúc trong
    xã hội, thang giá trị, định hướng giá trị, thước đo giá trị có những biến động mạnh, những thay
    đổi lớn lao, thậm chí có chỗ đảo lộn, gây nhiều bức xúc, băn khoăn, lo lắng có khi đến cay đắng,
    đau lòng từ trong nhà ra ngoài ngõ. Người người, nhà nhà quan tâm đến giáo dục, nhất là giáo
    dục đạo đức, nhân cách. Cuốn sách này mong được đáp ứng, dù phần nhỏ, vào công việc hết
    sức trọng đại này của dân tộc. Để làm được việc đó, vì là một công trình khoa học, nên lại phải

    đi từ ngọn nguồn, dù chưa có điều kiện, cả về thời gian cả về tư liệu, có khi cả trình độ cũng có
    chỗ hạn chế, thực hiện đến nơi đến chốn, mong bạn đọc thông cảm. Thế là một cuộc hành trình
    không ít gian nan bắt đầu từ tìm tòi xem ý tưởng “Giá trị con người” có tự bao giờ, ai là tác giả,
    ý tưởng đó phát triển qua vài mốc chính đến khoa học về giá trị hiện đại, quan tâm nhiều hơn
    tới hệ giá trị một số nơi trên thế giới – châu Âu, Mỹ, Đông Á, Đông Nam Á – bao gồm những gì
    và tác dụng của chúng đối với tiến bộ xã hội trở thành văn minh, giàu có - mục đích chính của
    cuốn sách nhỏ này. Cuộc hành trình muốn đến đích này, lại phải dừng lại một số vấn đề cơ bản,
    như đối tượng và cơ sở triết học của giá trị học, trải nghiệm là cơ chế tạo lập và vận hành của
    giá trị và thái độ giá trị. Một điều tác phẩm nhất thiết phải đề cập đến, dù chưa được như mong
    muốn, là tìm hiểu các giá trị chung của loài người và con người: Tính người, tình người, các giá
    trị “Chân, Thiện, Mỹ”, giá trị sống còn, giá trị lao động, quan hệ người - người, giá trị trách
    nhiệm xã hội...
    Tóm lại, giá trị học trình bày trong tập sách này là bước đi mới ban đầu ở nước ta, gắn bó mật
    thiết với các khoa học:
    - Đạo đức học,
    - Văn hoá chính trị học,
    - Nghiên cứu con người – Nhân học văn hoá,
    - Tâm lý học – Tâm lý học giá trị,
    - Giáo dục học – Giáo dục học giá trị.
    Nội dung sách này có thể hỗ trợ các khoa học kể ra ở đây. Ngược lại, tri thức của các khoa học
    này có phần trợ giúp đắc lực cho tiếp thu sách này.
    Nhưng công trình này không nhằm đơn thuần trình bày một số hiểu biết về giá trị học, mà, như
    tên gọi cuốn sách, chủ yếu nhằm mục đích cung cấp cơ sở lý luận để đúc kết và xây dựng Hệ giá
    trị chung của người Việt Nam trong thời đại công nghiệp hoá theo hướng hiện đại, mở cửa hội
    nhập với khu vực, với thế giới (nói gọn: Thời nay). Vạn sự khởi đầu nan, hy vọng, khó khăn ban
    đầu được khắc phục, công việc sẽ thu được kết quả. Tiếp nối truyền thống dân tộc, từng người,
    gia đình và cả xã hội... hơn bao giờ hết giáo dục vun xới giá trị bản thân và cộng đồng, nhất là
    các nhà chức trách, các tổ chức, doanh nghiệp... thực sự trọng dụng, phát huy giá trị của từng
    con người, để chúng ta có nguồn nhân lực, “vốn người” hoàn toàn đủ sức (trên thực tế chúng ta
    có đủ tiềm năng, như lịch sử dựng nước và giữ nước đã chứng minh) đồng thuận, đoàn kết đưa

    nước ta thành một nước văn hiến phát triển, độc lập, giàu có, dân chủ, an bình, hạnh phúc. Đây
    cũng là ước muốn của tác giả, như tất cả các bạn.
    Như trên đã nói, tác phẩm còn xa mới đạt mức hoàn thiện, chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Chỉ
    mong sao có bạn đọc và chờ đợi các bạn chỉ giáo những khiếm khuyết. Được vậy, tôi xin vô
    cùng cảm ơn!
    Hà Nội những ngày lịch sử năm 2010
    TÁC GIẢ

    Bài mục thứ nhất
    Đi vào nghiên cứu giá trị học: Ý tưởng và triển khai
    Cuốn sách này viết về Giá trị học là Khoa học về Giá trị. Bài mục này (mục lục sách không theo
    “Phần...”, “Chương...”, mà theo “Bài mục...”) trình bày “lịch sử” quá trình lao động viết nên công
    trình này.
    Trong quá trình viết luận án Tiến sĩ khoa học “Hành vi và hoạt động” ở khoa tâm lý học, trường
    Đại học Tổng hợp Lômônôsốp (1973-1977), tôi đã quan tâm đến Giá trị học - Khoa học về Giá
    trị. Nhưng hồi ấy ở Liên xô chưa cho phép trình bày suy nghĩ đó, mãi khi về nước, tại Hội thảo
    tâm lý học toàn quốc tổ chức năm 1978 tại Nha Trang, trong báo cáo khoa học “Tâm lý học và
    khoa học nghiên cứu con người” tôi mới có thể trình bày khẳng định: “... tâm lý học phải coi
    trọng giá trị và quy luật giá trị đang tồn tại một cách khách quan...”, coi đó là “nội dung cơ bản
    của cuộc sống thực, trong đó đời sống người nảy sinh và phát triển...”1 (các số nhỏ ghi như ở
    đây chỉ các tài liệu tham khảo ở cuối từng bài mục trong sách này). Khi nghiên cứu Tâm lý học
    Hành vi ở Mỹ - nơi có nền kinh tế thị trường từ lâu và đã thu được nhiều thành quả phát triển
    kinh tế rất khả quan - tôi ngày càng thấy rõ việc nghiên cứu tâm lý người trong trường tác
    động của quy luật giá trị, chính là con đường nghiên cứu tâm lý, như Các Mác đã chỉ ra, của “...
    những cá nhân hiện thực..., hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ”2.
    Tuy nhiên, cuối thập kỷ 70 và suốt thập kỷ 80 thế kỷ trước, tôi được giao một số đề tài nghiên
    cứu khoa học khác, nên chưa đi vào đề tài giá trị học được, ngoại trừ dịp tôi nhận làm Tổng chủ
    biên tập sách “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục” (Viện Khoa học Giáo dục, Bộ
    Giáo dục, 1981). Khi lập đề cương cho tập sách trên, tôi vẫn đeo đuổi ý tưởng đưa giá trị học
    vào khoa học giáo dục nên đã giao cho PGS. TS. Trần Tuấn Lộ viết một bài theo hướng này. Rất
    tiếc bài viết đó lại chủ yếu nói về các giá trị thẩm mỹ.
    Kể từ sau “Đổi Mới”, Đảng và Nhà nước ta mới quan tâm thực sự thích đáng (cả về lý luận và
    thực tiễn) đối với quy luật giá trị, được tính đến không phải chỉ trong lĩnh vực kinh tế, mà cả
    trong nhiều lĩnh vực khác, nhất là đối với con người. Chính sách sử dụng nhân lực đã tạo thêm
    cơ sở xã hội thôi tôi thúc suy nghĩ tìm cách triển khai ý tưởng nghiên cứu giá trị học. Rất may
    mắn, những năm 1989 và 1990 tôi được Uỷ ban Khoa học - Kỹ thuật Nhà nước (nay là Bộ Khoa
    học – Công nghệ) mời tham gia vào Tiểu ban chuẩn bị một số chương trình nghiên cứu khoa
    học, rồi tiếp đó làm Chủ nhiệm Chương trình khoa học – công nghệ Nhà nước (KHCN NN) KX07 “Con người - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” theo tư tưởng ghi trong

    Cương lĩnh của Đảng ta (1991). Phải nói thêm rằng đây là lần đầu tiên trong khoa học nước
    nhà có chương trình KHCN NN về con người: Cách tiếp cận mới với “nhân tố con người”, nhấn
    mạnh vai trò quan trọng của “nhân tố con người”. Với tư cách là Chủ nhiệm chương trình, tôi
    đề xuất 19 đề tài, được Ban chủ nhiệm chương trình nhất trí thông qua. Trong đó có đề tài về
    “Nhân cách”3. Khi triển khai đề tài này cùng với đề tài “Phương pháp luận”, Chương trình đã
    vận dụng phương pháp tiếp cận giá trị học vào triển khai; đồng thời, có đề tài nhánh nghiên
    cứu “Định hướng giá trị nhân cách” và “Giáo dục giá trị” (một đề tài do PGS (nay là GS) TSKH.
    Thái Duy Tuyên, một đề tài do PGS. (nay là GS.) TS. Nguyễn Quang Uẩn phụ trách4.
    Có thể nói, KX – 07 là công tình đầu tiên triển khai ý tưởng đi vào nghiên cứu khoa học về giá
    trị (giá trị học) ở Việt Nam và đã đạt được một số kết quả ban đầu. Trong đó, đặc biệt, đã nêu
    lên nhận định khái quát về những biến đổi rất đáng kể trong định hướng giá trị ở thanh niên ta
    (nhận định này lần đầu tiên được công bố trong sách “Vấn đề con người trong công cuộc đổi
    mới”, Phạm Minh Hạc, KX – 07, Hà Nội, 1994) và khẳng định một số giá trị chung của thế giới,
    như: Hoà bình, Phát triển, Dân chủ... và một số giá trị của dân tộc ta, như: Yêu nước, Cần cù,
    Hữu nghị...
    Giai đoạn những năm 2000-2006, theo tư tưởng bên cạnh cột trụ chính trị, cột trụ kinh tế, cột
    trụ xã hội, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh cột trụ “văn hoá, con người và nguồn nhân lực”. Chương
    trình KHCN NN “Phát triển văn hoá, con người và nguồn lực trong thời kỳ CNH, HĐH” do tôi
    làm Chủ nhiệm, có ba mảng: Văn hoá - Con người - Nguồn nhân lực, rất gắn bó với nhau và do
    đó phải có sự kết nối trong quá trình nghiên cứu. Chương trình đưa ra kết luận: từ giá trị văn
    hoá đến giá trị con người, cuối cùng ra giá trị nhân lực chứa đựng “lực lượng bản chất của con
    người” (Các Mác) là một dòng chảy - sức mạnh vô tận quan trọng nhất của nội lực dân tộc. Đây
    chính là ý nghĩa của giá trị học đối với cuộc sống, cũng như với chính trị học, ngày nay thường
    gọi là giá trị quan: vận dụng quan điểm giá trị vào văn hoá chính trị. Chương trình có cơ hội
    vận dụng phương pháp tiếp cận giá trị học vào tâm lý học khi dành hẳn một đề tài nghiên cứu
    “giá trị nhân cách” theo phương pháp thực nghiệm đang dùng rộng rãi trên thế giới, kết quả
    phản ảnh trong một tập sách khá dày5 những số liệu và nhận định rất lý thú, phần nào được
    giới thiệu ở bài mục Tâm lý học giá trị trong tác phẩm này.
    Do những kết quả nghiên cứu về con người trong mười năm (1990-2000), nhất là với sự kiện
    ngày 20 tháng 9 năm 1999, Viện nghiên cứu Con người (NCCN) thuộc Viện Khoa học Xã hội
    (KHXH) Việt Nam, Dự án Điều tra Giá trị Thế giới (ĐTGTTG) - viết tắt là WVS - đã quyết định
    kết nạp Việt Nam vào Dự án ĐTGTTG. Với việc tham gia hai đợt điều tra vào năm 2001 và 2006
    theo một phương pháp chung, tham gia một số hội thảo quốc tế trong khuôn khổ Dự án (có

    báo cáo khoa học) và công bố một số kết quả nghiên cứu trên sách và tạp chí quốc tế nên
    chúng tôi có thêm nhiều thông tin mới để cập nhật hơn về lý luận và phương pháp nghiên cứu.
    Nói theo ngôn ngữ thường nhật bây giờ, đề tài của chúng tôi đã “hội nhập” với thế giới.
    Thực ra, khoa học từ sau thời Cổ đại, đặc biệt từ giữa thiên niên kỷ trước, luôn luôn mang tính
    quốc tế. Ở ta, khoa học còn mới mẻ, chắc có thể tính từ sau Cách mạng tháng Tám hoặc chính
    xác hơn từ sau năm 1954. Từ lâu chúng ta đã nói về các giá trị di sản văn hoá - lịch sử - cách
    mạng, nhưng chủ đề Giá trị học, như trình bày trong sách này, mới được đề cập lần đầu tiên
    trong thời kì Đổi mới và mãi sang đầu thế kỷ XXI chúng tôi mới có điều kiện bước đầu tìm hiểu
    lịch sử khoa học này: Năm 2004 công bố bài đầu tiên và phần lớn các bài mục trong tập sách
    này đã công bố trong 6 năm qua (2004 - 2010) trên tạp chí Nghiên cứu Con người, đôi bài trên
    tạp chí Giáo dục, Khoa học giáo dục, Tuyên giáo.
    Ngày 25 tháng 4 năm 2008 đánh dấu một mốc đáng ghi nhớ của công trình này: Theo sự phân
    công của Hội đồng lý luận Trung ương (HĐLLTƯ) và Viện KHXH Việt Nam, với tư cách nguyên
    là Viện trưởng Viện NCCN, tôi được trình bày báo cáo khoa học “Vấn đề xây dựng con người và
    nguồn nhân lực: Quan niệm, chính sách” với Bộ Chính trị. Báo cáo rút ngắn đã được HĐLLTƯ in
    trong một tập sách6 và Viện NCCN đăng tải trong sách nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày thành
    lập Viện7. Trong phần cuối của báo cáo chúng tôi đề xuất và kiến nghị Đảng và Nhà nước công
    bố đúc kết Hệ giá trị Việt Nam. Được chính thức báo cáo như vậy đối với chúng tôi hết sức có ý
    nghĩa: đó là đã có “đầu ra” (phục vụ xã hội) có ý nghĩa quan trọng nhất đối với công trình khoa
    học – điều mà ai trong giới khoa học cũng mong muốn.
    Triển khai kết luận của Bộ Chính trị, tháng 9 năm 2008, Viện KHXH VN đã giao cho tôi đề tài
    NCKH cấp Bộ “Những luận cứ khoa học của việc xây dựng Hệ giá trị chung của người Việt Nam
    trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập dưới tác động của toàn cầu hoá”, thực hiện
    trong 2 năm 2009 và 2010, theo đó tập trung vào cơ sở lý luận, chủ yếu sử dụng các cứ liệu của
    các chương trình, đề tài kể trên và chỉ điều tra định tính bổ sung cứ liệu cần thiết. Đề tài đã tạo
    điều kiện giúp tôi hoàn tất bản thảo cuốn sách này; mạnh dạn đề xuất đúc kết, xây dựng Hệ
    thống giá trị chung của Việt Nam thời nay; thử đưa ra một phương án để xin ý kiến rộng rãi,
    phát huy tác dụng của Giá trị học, hy vọng có đóng góp - dù rất nhỏ nhoi - vào giữ gìn và xây
    đắp nền tảng tinh thần của dân tộc, từng cộng đồng..., đặc biệt, giáo dục giá trị cho thế hệ trẻ,
    làm sao mỗi người đều tự mình, cũng như nhà trường, gia đình, xã hội giúp từng người kiến
    tạo nên những giá trị bản thân – giá trị nhân cách: Tâm lực, trí lực, thể lực; Phát huy các giá trị
    này, đồng thời (yêu cầu này rất quan trọng) cộng đồng xã hội tạo môi trường (điều kiện) lành
    mạnh cho mọi người tạo lập và sử dụng các giá trị bản thân: Quý trọng con người, đề cao, tận

    dụng giá trị con người (nguồn nhân lực - vốn người), nhất là trọng dụng nhân tài - đầu tàu của
    nguồn nhân lực, tạo nên cuộc sống an bình, thịnh vượng, hạnh phúc.
    Đóng góp nhỏ bé này, nếu thực hiện được, là mục tiêu tối thượng của tập sách và nói chung,
    của cả cuộc đời làm khoa học của tác giả.
    Lời nói đầu tiên không thể thiếu: tự đáy lòng tôi muốn được bầy tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các
    đồng chí lãnh đạo Đảng, các cán bộ quản lý khoa học nước nhà, các cơ quan chủ trì chương
    trình, đề tài cùng các bạn đồng nghiệp cộng tác trong các chương trình, đề tài do tôi phụ trách,
    các nhà xuất bản, các tạp chí đã công bố các sản phẩm của tôi trong suốt 20 năm qua (1990 2010) - nhờ vậy mà hôm nay có tác phẩm này. Giá trị học là một lĩnh vực khoa học rất phức
    tạp, khá nhạy cảm, đặc biệt trong thời gian này, lại là một chủ đề mới đối với tôi, nhiều chỗ có
    tính chất nêu vấn đề hơn giải quyết vấn đề. Cho nên không tránh khỏi thiếu sót, rất mong các
    bạn gần xa chỉ giáo.
    TÀI LIỆU THAM KHẢO (TLTK)
    1. Phạm Minh Hạc. Tuyển tập tâm lý học. tr.493, tr.647, NXB. Giáo dục (GD), Hà Nội (HN), 2001;
    NXB. Chính trị quốc gia (CTQG), HN, 2005.
    2. Các Mác và Ph. Ăngghen. Toàn tập, t.3, tr.28. NXB. CTQG, HN,1995.
    3. Phạm Minh Hạc. Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH. NXB. CTQG, HN,
    2001.
    4. Thái Duy Tuyên (Chủ biên), Lê Đức Phúc, Nguyễn Đức Uy, Đặng Thành Hưng, Nguyễn Đức
    Thạc, Nguyễn Thanh Hoàn, Nguyễn Thế Hùng. Giá trị Định hướng giá trị - Sự biến đổi định
    hướng giá trị con người Việt Nam hiện nay (tư liệu). KX-07-10.HN, 1993.
    Phạm Minh Hạc. Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới. KX- 07, HN, 1994.
    Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang. Giá trị - Định hướng giá trị nhân cách và giáo
    dục giá trị. KX- 07 – 04, HN, 1995.
    5. Phạm Minh Hạc (Chủ biên), Vũ Thị Minh Chi, Nguyễn Văn Huy, Lê Thanh Hương, Phạm Mai
    Hương, Đào Thị Minh Hương, Nguyễn Công Khanh, Lê Đức Phúc. Nghiên cứu giá trị nhân cách
    theo phương pháp NEO PI-R cải biên. NXB. Khoa học xã hội (KHXH), HN, 2007.
    6. Hội đồng lý luận Trung ương. Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình

    hiện nay. Tập I. NXB. CTQG, HN, 2008.
    7. Mai Quỳnh Nam (Chủ biên). Con người, Văn hoá - Quyền và phát triển. NXB. Từ điển bách
    khoa, HN, 2009.

    Bài mục thứ hai
    Giá trị quan và cuộc sống: Tính thời sự và khả năng ứng dụng
    Giá trị quan, nói đơn giản nhất, là quan điểm giá trị, nói cụ thể hơn, là cách nhìn nhận vấn đề
    dưới góc độ giá trị, giải quyết vấn đề xuất phát từ giá trị, nhằm mục tiêu giá trị, từ cấp độ con
    người đến cấp độ cộng đồng, quốc gia – dân tộc... “Thời nay”, như trên đã nói, chỉ thời kỳ Đổi
    mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, mở cửa hội nhập của nước ta, trên phạm vi rộng hơn và thời
    khắc những năm đầu thế kỷ XXI (thế kỷ mới). Bài mục này nhằm nêu lên tính thời sự (cũng có
    thể nói tính thời đại) của giá trị học, tuy nhiều bài mục đề cập những vấn đề hết sức cơ bản sẽ
    trình bày ở dưới, nhưng đều mang tính ứng dụng ở các cấp độ khác nhau.
    Một trong những nét nói lên tính thời sự, tính ứng dụng của giá trị học là ở chỗ, như các khoa
    học có liên quan đã chỉ ra, được coi là một bộ phận của Văn hoá chính trị trong chính trị học,
    nói đến cách ứng xử lịch sự, ân cần, khoa học của các cấp lãnh đạo, quản lý, các nhà chính trị
    theo phương pháp tiếp cận giá trị (theo hệ giá trị, thang giá trị, thước đo giá trị, định hướng
    giá trị). Ví dụ tiêu biểu về văn hoá chính trị có thể nêu 6 điều Tư cách người Công an được Chủ
    tịch Hồ Chí Minh viết trong thư gửi Công an Khu 12, ngày 11 tháng 3 năm 1948 (Văn hoá chính
    trị Hồ Chí Minh). “Văn hoá chính trị” mới xuất hiện khoảng 3 thập kỷ nay.
    Khi cuộc cách mạng công nghệ thông tin bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ, mang lại những
    biến đổi xã hội sâu sắc: một nền kinh tế mới, trình độ khoa học – công nghệ khác hẳn, dân trí
    cao hơn trước nhiều, cơ cấu xã hội biến đổi với sự tham gia của các giai tầng, các công dân vào
    quản lý và lãnh đạo xã hội, đòi hỏi ngày càng phải mở rộng dân chủ, bảo đảm nhân quyền và
    dân quyền, thì, người ta bắt đầu nói đến một “kinh tế tri thức”, xã hội học tập, xã hội tri thức vị trí của tri thức đang bước sang một thời kỳ vinh quang mới, bước lên đỉnh của “tam giác
    vàng quyền lực”1.
    Một văn hoá chính trị mới ra đời trong thời đại mới: tư duy mới về quyền lực, phải hình thành
    mới quá trình sáng tạo, cải tiến, vận động chính trị. Văn hoá chính trị thời nay bao gồm yếu tố
    giá trị học bên cạnh yếu tố nhận thức (đường lối) và yếu tố cam kết (quyết tâm, kiên định)
    chính trị. Hệ giá trị dân tộc, từng ngành, từng tổ chức là cốt lõi văn hoá, chuẩn mực đạo đức của
    cả quốc gia, từng ngành, từng tổ chức, bảo đảm “nền tảng tinh thần”2 của toàn bộ công cuộc
    xây dựng và bảo vệ đất nước, thực hiện sứ mệnh “mục tiêu nhiệm vụ” của từng ngành, từng tổ
    chức, phát triển bền vững con người và nguồn nhân lực nói chung. Người quản lý, lãnh đạo

    phải là người tiêu biểu cho Hệ giá trị và có năng lực điều hành sự vận động Hệ giá trị theo
    hướng tạo ra sức mạnh thực hiện mục tiêu của tổ chức, của đất nước. Qua đó, củng cố, xây
    dựng, phát triển niềm tin của từng thành viên, cả cộng đồng và toàn xã hội. Niềm tin là một giá
    trị hết sức quan trọng trong tâm lý con người. Niềm tin vào bản thân, vào tương lai và niềm tin
    vào chế độ xã hội, vào tổ chức, cơ quan... và lòng tự hào dân tộc, gắn bó với Tổ quốc có quan hệ
    qua lại rất chặt chẽ, nâng đỡ nhau, hỗ trợ nhau. Ở đây có cả vấn đề quyền con người, quyền
    công dân, nói chung là vấn đề dân chủ. Ngày nay, khắp nơi đều đặt dấu nhấn vào vấn đề này
    trong văn hoá chính trị, một cơ sở cực kỳ quan trọng tạo nền đồng thuận trong cơ quan, doanh
    nghiệp và cả nước đoàn kết, đại đoàn kết thành “vốn người”, “vốn xã hội” là những điều kiện
    cực kỳ quan trọng bảo đảm đất nước phát triển bền vững.
    Để thấy vị trí của giá trị học, điểm qua giá trị quan thời nay, cụ thể xem các nhà chính trị, lãnh
    đạo có quan điểm về giá trị, vận dụng phương pháp tiếp cận giá trị vào hoạt động của mình
    như thế nào. Ở ta, ngày 27 tháng 4 năm 2010, Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh
    niên VN đã nêu nhiệm vụ giáo dục chuẩn mực đạo đức và làm tốt định hướng giá trị cho thanh
    niên3; ngày 29 tháng 5 năm 2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã khuyên học viên của
    Học viện Hành chính: “Bên cạnh việc học tập nâng cao trình độ, tôi mong các đồng chí đặc biệt
    chú trọng trau dồi tư tưởng, đạo đức của người cán bộ, như Bác Hồ dạy là thật thà, trung thực,
    liêm chính. Đó là thước đo nhân cách của mỗi con người trong gia đình, ngoài xã hội, ở mọi
    quốc gia, trong mọi thời đại. Đó cũng là thước đo giá trị, phẩm chất cơ bản của người cán bộ,
    của cơ quan quản lý Nhà nước, của nền hành chính Nhà nước”4; tiếp tục truyền thống “Ba sẵn
    sàng” Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Hà Nội đã nêu hướng phấn đấu theo 8
    giá trị cốt lõi: “Mỗi bạn trẻ Thủ đô thời đại mới, đó là: Trung thành, sáng tạo, khát vọng, dấn
    thân, tôn trọng và trách nhiệm...”5; Báo Tuổi trẻ (Ngày 3 tháng 5 năm 2010) cũng đã nêu thuật
    ngữ “giá trị bản thân” con người.
    Ở nước ngoài, trong chính trị, phương pháp tiếp cận giá trị học phổ dụng hơn. Ví dụ, sau chiến
    tranh Lạnh (sau 1991), Nhật Bản có khuynh hướng “bản vị giá trị” chú trọng đề cao 5 giá trị:
    Tự do, dân chủ, nhân quyền, kinh tế thị trường và pháp quyền; coi việc bảo vệ và truyền bá các
    giá trị đó - thành tựu quý giá từ thời Minh Trị - là “lợi ích quốc gia cơ bản của Nhật Bản” và đặt
    chính sách “Ngoại giao giá trị quan” – “Ngoại giao hướng về giá trị”6a vào tầm cao chiến lược,
    lấy các giá trị đó làm một trong những tư tưởng chỉ đạo xây dựng Cộng đồng Đông Á, thậm chí
    có ý đồ tạo nên một “Liên minh giá trị quan” gồm Nhật - Mỹ - Ôxtrâylia - Ấn Độ6b. Chính trị, ai
    cũng biết, rất phức tạp: Gần đây chính quyền Tôkyô đang đặt lại quan điểm ngoại giao này.
    Năm 2010, một học giả nổi tiếng ở Nhật cho ra một cuốn sách nhỏ với tiêu đề “Hướng tới một

    thời đại mới của sự sáng tạo giá trị”6c.
    Còn ở Mỹ tình hình có khác. Cũng như trước đây, có tới hàng thế kỷ, ngày nay chính giới Mỹ
    cũng rất hay nói về Hệ giá trị Mỹ (xem bài mục thứ mười chín). Trong tranh cử Tổng thống
    nhiệm kỳ này, ứng viên Ôbama đã nói: “Chúng ta có thể trung thành với các giá trị của mình và
    nhờ đó, thúc đẩy các giá trị đó ở nước ngoài”7a. Trong các bài nói sau này, ông ta cũng hay
    theo cách tiếp cận giá trị7b. Theo tinh thần đó, nhiều chính khách một số nước đôi khi cũng
    lên tiếng khẳng định, chẳng hạn như Tổng thống Pháp N. Sarcôzy đã nói: “Với một thế giới
    chìm trong rối loạn và hoài nghi, thì người Mỹ vốn tin tưởng vào những giá trị bấy lâu nay định
    hình nên bản sắc Mỹ, đã thể hiện lòng tin của họ trong giai đoạn hiện tại và tương lai. Vào thời
    điểm mà chúng ta phải cùng nhau đối mặt với những thách thức to lớn, cuộc bầu cử của các
    bạn (ở Mỹ - PMH chú thích) đã tiếp hy vọng cho Pháp, Châu Âu và hơn thế nữa”8, chính nước
    Pháp lo phục hồi 4 giá trị: Lao động, trí tuệ, tài năng và trách nhiệm. Singapo rất quan tâm đến
    thái độ giá trị của thế hệ trẻ 9. Trung Quốc đang “tập trung vào các giá trị ổn định truyền
    thống”10, Thế vận hội Bắc Kinh 2008 được gọi là Thế vận hội của các giá trị nhân văn, Đảng
    Cộng sản Trung Quốc chủ trương xây dựng Hệ giá trị XHCN (xem bài mục thứ hai mươi). Nhà
    lãnh đạo Nga bây giờ cũng tiếp nhận cách tiếp cận giá trị: “Trong thế kỷ XXI đất nước chúng ta
    (nước Nga – PMH bị chú) một lần nữa cần phải hiện đại hoá toàn diện. Và đây sẽ là kinh
    nghiệm hiện đại hoá đầu tiên trong lịch sử đất nước dựa trên giá trị và thể chế dân chủ”11. Gần
    đây, ở Mỹ có tác giả đưa ra thuyết “thực lực mềm” (bên cạnh “thực lực cứng”), “thực lực cứng”
    gồm kinh tế và quân sự, còn “thực lực mềm” gồm quan niệm giá trị và quan niệm giá trị được
    coi là nền tảng của nước Mỹ; tác giả này nhận định: “Quyền lực mềm” của Mỹ đang xuống
    dốc12. Liên Xô sụp đổ (1991) có một nguyên nhân rất hệ trọng là không chú ý thoả đáng “vấn
    đề con người” và giá trị bản thân con người13.
    Trong “Tổng quan về các giá trị trong thế kỷ XXI” công bố tháng 2-2008 đã điểm qua văn bản
    “Những xu hướng toàn cầu năm 2025: Một thế giới đã đổi thay” do CIA Mỹ biên soạn, một số
    tác phẩm khác nói về triển vọng của thế kỷ XXI, như “Bản đồ mới của Lầu Năm Góc: Hoà bình
    và chiến tranh thế kỷ XXI”, sách xanh về hành động: “Sáng tạo một Thế giới mới” 14 đều theo
    cách tiếp cận giá trị. Sau khi tình hình thế giới, như hệ thống đa cực, nhóm G20, các khu vực,
    các điểm nóng ở Trung Đông, Nam Á, chủ nghĩa khủng bố..., các công trình đã nói tới: (1) Các
    “Giá trị tập thể” (quyền lực, mâu thuẫn bộ lạc và Chính phủ Trung ương, tình hình ổn định và
    trật tự xã hội ở Nga và Trung Quốc); (2) “Giá trị cá nhân” bao gồm (a) Doanh nghiệp của các
    nền kinh tế thị trường tự do ở Mỹ và Anh có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính, tuy qua phát
    triển doanh nghiệp mà lần đầu tiên có được hệ giá trị coi cá nhân giữ vai trò trung tâm thúc

    đẩy phát triển đất nước, coi đây đúng là quan điểm thực dụng, nhưng mang lại tác dụng tích
    cực; và (b) Sinh thái và môi trường chủ yếu nêu vấn đề qua Cộng đồng Châu Âu (EC) và các
    nước Bắc Âu cũng là các nước coi trọng tự do cá nhân như các nước Mỹ, Anh nêu trong mục (a),
    nhưng ít thực dụng hơn, có thể mang lại tác dụng tích cực hơn; và (3) “Giá trị tích hợp” bao
    gồm giá trị “cùng hành động” một cách tiếp cận tích hợp các loại giá trị, để giải quyết các vấn
    đề toàn cầu phức tạp ngày nay. Chứng tỏ rằng giá trị học (cách tiếp cận giá trị) ngày càng được
    sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, kéo theo ngày càng quan tâm đến khoa học này.
    Bài học lịch sử của dân tộc ta là: Dòng chảy giá trị từ văn hoá, con người tới nguồn nhân lực tạo
    nên sức mạnh dân tộc trường tồn. Ý nghĩa của giá trị học chính là ở chỗ đó. Kết quả của các
    chương trình KHCN NN trong 20 năm qua, như đã điểm qua một phần ở trên, đã đi đến kết
    luận: Các vấn đề văn hoá, con người và nguồn nhân lực rất gắn quyện với nhau. Các giá trị vật
    chất cùng với giá trị tinh thần (văn hoá) do con người tạo ra thông qua giáo dục và tự giáo dục
    trở lại với con người tạo ra giá trị bản thân (giá trị nhân cách) của con người, đó là sức mạnh ở
    con người cũng như nhóm, tập thể, lao động (suy rộng ra là của dân tộc...) thành vốn người,
    nguồn lực con người (nguồn nhân lực) tạo ra giá trị mới, đáp ứng nhu cầu của từng cá nhân,
    nhóm, tập thể lao động, sản xuất, kinh doanh... phát triển đất nước: Văn hoá, con người (giá trị
    bản thân), nguồn nhân lực quyện lại thành một dòng chảy sức mạnh trường tồn dân tộc. Vấn
    đề nguồn lực là một trong những vấn đề nổi cộm nhất khi loài người bước vào thời đại phát
    triển mới và ở nước ta - CNH, HĐH, mở cửa, hội nhập quốc tế.
    Trên thế giới, các nhà nghiên cứu đang xem lại sự phát triển nguồn nhân lực dưới góc độ giá trị
    học từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (bắt đầu từ thế kỷ XVIII), qua cuộc cách mạng
    công nghiệp lần thứ hai (bắt đầu từ thế kỷ XIX) và đi vào thời đại mới ngày nay như thế nào15.
    Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để
    phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững... Con người và nguồn nhân lực là
    nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH...”18. Nói tới nguồn nhân
    lực, theo nghĩa đầy đủ, là nói tới nguồn lao động, đội ngũ lao động, nói chung lại là nói tới vốn
    người - tổng giá trị con người của cộng đồng, xã hội đang được phát huy tác dụng 17. Từ lâu,
    người Việt đã rất chú ý giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống văn hoá - lịch sử. Công việc
    này được đánh giá cao và thực sự mang lại tác dụng tốt, đóng góp rất quan trọng trong quá
    trình dựng nước và giữ nước.
    Xây dựng chiến lược đi vào thế kỷ XXI, nhiều nước đã nêu vấn đề đặt lợi ích giá trị là khát vọng
    của dân tộc mình. Hai thập kỷ qua, chúng ta chứng kiến việc có thêm nhiều công trình trong
    lĩnh vực này. Năm 1995, Uỷ ban Giáo dục – Khoa học – Văn hoá (UNESCO) và Quỹ Nhi đồng

    (UNICEF) của Liên Hiệp Quốc đã chủ trương giáo dục Giá trị sống, nhiều nước đã tích cực triển
    khai. Xem vậy, khoa học giá trị đang đi vào cuộc sống ngày càng rộng khắp như thế nào. Việt
    Nam cũng tích cực hưởng ứng với việc gần đây có một số hội thảo, đề tài nghiên cứu về chuyên
    đề giá trị17, báo chí cũng đã nêu vấn đề định hướng giá trị cho thanh niên theo “những chuẩn
    mực giá trị chung của xã hội”18 . Ở một số nơi công cộng, như nhà ga, sân bay, bảng quảng cáo
    đã nêu mục tiêu vì “giá trị sống”; có bài viết với tiêu đề “câu chuyện niềm tin về giá trị sống”,
    đưa ra 5 “giá trị cốt lõi”: Tri thức, lao động, tình yêu, công bằng, trung thực19. “Giá trị sống” ở
    mỗi người, chúng tôi gọi là “giá trị bản thân”. Nhưng đến nay, chưa có văn bản nào về giá trị
    chung của nước ta. Vấn đề đặt ra cho chúng ta ở đây là thúc đẩy vận dụng phương pháp tiếp
    cận giá trị vào đời sống, nghiên cứu khoa học về văn hoá chính trị, trước mắt nêu lên nhiệm vụ
    đúc kết, xây dựng Hệ giá trị chung của người Việt Nam thời nay. Cuốn sách này mong có đóng
    góp nhỏ vào phát triển bền vững con người, giáo dục đạo đức, giữ gìn bản sắc dân tộc, an sinh
    xã hội, đất nước an bình, thịnh vượng. Đây chính là mục tiêu của tác phẩm. Tìm hiểu lịch sử
    khoa học về giá trị có thể giúp ích cho công việc này.
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Alvin Tofler. Thăng trầm quyền lực. Tr.31-36. NXB. Thông tin lý luận, Ban KHXH. TP Hồ Chí
    Minh, 1990.
    2. Ban Chấp hành TƯ ĐCSVN. Nghị quyết kỳ họp lần thứ 5, khoá VIII
    3. Nông Đức Mạnh. Bài phát biểu tại Đại hội lần thứ VI của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam
    ngày 27-4-2010. Theo Truyền hình Việt Nam, Chương trình thời sự 19 giờ cùng ngày.
    4. Nguyễn Minh Triết. Bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Học viện Hành chính
    (29-5-2009).
    5. Ngọ Duy Hiểu. Diễn văn kỷ niệm 45 năm phong trào “Ba sẵn sàng” và 10 năm phong trào
    “Thanh niên tình nguyện” do Thành đoàn TNCS Hà Nội tổ chức ngày 9 -8- 2009.
    6. a-Asia News, 9-2006
    b- Bản tin tham khảo đặc biệt ...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC NGỌC CHÂU - TP. HẢI DƯƠNG !