Giới thiệu sách tháng 12 - Trường Tiểu học Ngọc Châu
Thuở mơ làm văn sĩ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:27' 31-03-2024
Dung lượng: 902.4 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:27' 31-03-2024
Dung lượng: 902.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Hồi Kí
THUỞ MƠ LÀM VĂN SĨ
Tác giả: Nguyễn Thụy Long
Nguồn text: vietmessenger
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
TỰA
Năm 1950. Ở Hà Nội, tôi 10 tuổi, mới đậu xong bằng tiểu học,
sửa soạn thi vào lớp đệ thất ( lớp 6 bây giờ ) trường trung học Chu
Văn An. Nghĩa là sẽ trở thành học sinh trường bưởi danh tiếng xưa kia
đấy. Nhưng là tuổi ăn tuổi chơi. Ba tháng hè, tôi tham gia tất cả những
trò chơi trẻ con ở Hà Nội. Đánh đinh, đánh đáo, sưu tầm programes ở
những rạp chiếu phim, xem ciné và đọc truyện.
Có lẽ thứ mà tôi đam mê nhất là đọc truyện. Tôi đọc lung tung đủ
thứ truyện, từ truyện kiếm hiệp đến mọi loại tiểu thuyết, in thành từng
tập mỏng phát hành mỗi tuần mà cha tôi gọi là tiểu thuyết ba xu. Gom
góp từng tập mỏng ấy để đóng lại thành pho sách dầy. Những truyện
đăng trên báo tôi cũng cắt đóng lại thành từng tập. Không kể việc sưu
tầm từng cuốn tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn mà tôi rất ngưỡng
mộ. Tất cả những cuốn sách cũ, đôi khi nát phải tự phục chế. Lý do
đơn giản là tôi không có tiền để mua những cuốn tiểu thuyết tinh còn
thơm mùi mực in.
Tôi ngưỡng mộ biết bao nhiêu tác giả. Mơ ước ngày nào đó mình
được như họ. Tôi mê đến độ, có thể đọc tiểu thuyết bất cứ lúc nào
không phải chỉ ở những ngày rảnh rỗi. Thường xúc động về tình huống
số phận của các nhân vật. Mùa rét nằm trong chăn bông đọc tiểu
thuyết. Tôi nhớ đọc cuốn "Người anh cả " của Lê Văn Trương, tôi cũng
là anh cả trong gia đình nhỏ bé của mình, thế là tôi xúc động. Chui
vào trongchăn khóc thoả thích. Khóc sưng cả mắt, vì thương thân
phận người anh cả trong tiểu thuyết đó quá. Sau này, và đến bây giờ
tôi vẫn thường mủi lòng trước những hoàn cảnh, có thể trong tiểu
thuyết, đời thật hay phim ảnh. Nếu bạn bè tôi có nhận xét về tôi :
Trông con người nó hung hãn như vậy, nhưng tâm hồn thì yếu đuối.
Thuở bé xem phim Charlot. Phim The Kid ( dịch ra tiếng Việt là
Gà trống nuôi con ) khi Charlot lạc mất đức con nuôi, Charlot buồn
ngẩn người ra. Tôi cũng chảy nước mắt. Còn nhiều, rất nhiều tình
huống khác, trong tiểu thuyết hay trong phim ảnh làm cho tôi mủi lòng,
đến rơi lệ.
Không biết đó có phải là con đường gai góc mà tôi đã chọn khi
cầm bút không ? Khi ở Hà Nội, tôi trao lại cho thằng em họ tủ sách. Ra
đi nhưng vẫn thăm hỏi về những cuốn tiểu thuyết. Sau năm 1954 thì
viết bưu thiếp, cho đến lúc bặt tin. Rồi nhiều chục năm qua....tôi trở
thành nhà báo, nhà văn......Cũng là một đời lỡ mà thôi. Nhưng tôi
hãnh diện làm sao khi chọn nghề cầm bút.
Sau năm 1975. Miền Nam bại trận, người chiến thắng vào thành
phố. Những cuốn sách in ấn phát hành ở miền Nam bị kết tội phản
động, bèn được đem ra thiêu đốt. Tôi đứng nhìn tro tàn khói bay, cầu
xin cho nó được phiêu diêu miền cực lạc. Tôi cũng đã chứng kiến
nhiều tác giả khóc những cuốn sách trên đống tro tàn. Người buôn bán
sách, nhưng suốt một đời yêu quý sách, nên làm sách, in ấn sách,
đứng ngẩn như người mất hồn trước nhà sách, mà chính là kho sách
vĩ đại của mình ở đại lộ Lê Lợi. Nhà sách Khai Trí nay đã đổi tên chủ.
Tôi muốn nói ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trường. Một đời ông
dành cho những cuốn sách, không phải mình là tác giả mà của nhiều
người khác. Ông có cái đam mê của ông, đam mê đến cuối đời. Mấy ai
đã được sống đến trăm tuổi, nay tuổi ông Khai Trí đã 80. Hơn nửa đời
người kinh doanh sách, nhưng không thể gọi ông từ hạ đẳng là " đầu
nậu" sách. Như có lần sau khi nhà sách Khai Trí tịch biên, tôi đã nghe
lời miệt thị ấy của một nhà văn muốn lập công. Ví như loài cỏ " đuôi
chó " mà ông Phan Khôi đã viết hồi nào trong Nhân Văn Giai Phẩm.
Tôi nói ít ai thọ được trăm tuổi. Học giả Vương Hồng Sển đã là thọ mà
chỉ sống được 94 tuổi. Không như điều mơ ước của cụ, thọ tròn một
thế kỷ để nhìn cho rõ hơn " nhân tình thế thái ". Năm ngoái, tôi gặp học
giả Giản Chi. Cụ đã 94. Người yếu lắm rồi, cụ đi phải có người dìu.
Nhưng tôi nghe nói cụ vẫn đọc sách, vẫn nghiên cứu. Cụ đọc sách
bằng kính lúp soi trên trang giấy. Đáng quý lắm sao.
Cách nay một năm tôi gặp ông Khai Trí trong bữa giỗ ông Chu
Tử. Tôi hỏi ông rằng cái nhà sách Khai Trí của ông ở đường Lê Lợi
ông đã xin lại được chưa ? Sau khi ông từ Mỹ về và đã hồi tịch trở lại
người Việt Nam. Ông cười và trả lời :
- Sẽ xin lại được, thời hạn trả lại là năm 3000.
Tôi chưa lẩm cẩm đến độ không hiểu nổi câu trả lời ấy là lời chua
chát của một người kiên tâm với cái nghiệp của mình nay đã quá chán
nản.
Câu chuyện văn nghệ vòng vòng, tôi nhắc đến một bài mới đây
viết trên báo chí nhắc ông Khai Trí, có người nhà văn, cũng ông đó, đã
hết lòng ca tụng sự hào sảng của ông chủ nhà sách danh tiếng. Ông
Khai Trí đã chậm rãi trả lời :
- Tôi biết anh đó, khi tôi ngồi ở Chí Hoà anh ta đi với phái đòan
vào thăm tù. Anh từng biết tôi, nhưng hôm ấy anh ta nhìn tôi như nhìn
những người tù khác chưa hề quen biết. Vì khi đó tất cả chúng ta đều là
kẻ ngã ngựa, bị kết án....
Tôi thoáng nhìn thấy nụ cười ruồi của ông Khai Trí:
- Nhắc lại làm chi không biết nữa.
Đúng vậy, nhắc lại làm chi, nói theo thổ ngữ Nam Kỳ.
Tôi suy nghĩ hoài về câu nói ấy. Một câu nói thóang nghe thì tầm
thường, nhưng suy nghĩ thì nó đòi hỏi ở người cầm bút thật nhiều đấy.
Tuổi đời, kinh nghiệm đời không chưa đủ, còn đòi ngưòi cầm bút có
một điều kiện khác. Có xứng đáng để cầm bút mà viết không ?
Đã rất nhiều đêm tôi ngồi trên căn gác cắn bút suy nghĩ. Nên cầm
lại cây bút hoặc không nên. Cuối cùng thì tôi đã có quyết định. bây giờ
thì dĩ vãng dồn dậy trong tôi.
Trước đây tôi đã viết dang dở tập hồi ký " thuở mơ làm văn sĩ " ở
một tuần báo thiếu nhi trước năm 75. Sau đó tôi viết lại, những mong
" đăng báo " được. Nhưng bị đánh giá thấp qua biên tập. Tập hồi ký
chẳng ca tụng được caí gì. Chỉ ca tụng một giấc mơ, giấc mơ của một
kẻ mơ làm văn sĩ. Tôi đành gác bút.....
Gần nửa đời người làm việc cầm bút. Đến nay không giữ được
quyển sách nào của mình viết ra. Trận hoả tai năm 75, không phải
riêng tôi bị thiệt hại mà nhiều bạn bè đồng nghiệp của tôi cũng cùng
chung số phận và còn trở thành tội phạm, bị đem ra trưng bày tại
phòng trưng bày " tội ác Mỹ Nguỵ " Nhiều năm dài những cuốn sách
của tôi, của chúng tôi bị cầm tù. Tôi không có tiền, lộ phí, không có
giấy tờ tuỳ thân đàng hoàng. Đến bây giờ tôi cũng không đi. Phải
chăng tôi muốn giữ mãi hình ảnh của Hà Nội, của những con đường
những tỉnh miền Bắc tôi đã đi qua nguyên vẹn như thuở nào ? Tôi
không trả lời của chính câu hỏi mình tự đặt ra.
Tôi như nhìn thấy mình thuở mới bước qua tuổi trẻ thơ mang ước
mơ mình trở thành văn sĩ. Ôi giấc mơ mới đẹp và ngọt ngào làm sao.
Đến bây giờ cũng vậy, tôi không coi giấc mơ đó là oan nghiệt hay
nghiệp chướng phủ phàng.
Muỗi đêm nay sao ra nhiều thế, nó cắn tôi nhoi nhói. Không biết
có con muỗi nào mang mầm bệnh không ? Nếu có chắc chắn là nó
truyền cho tôi căn bệnh nào đó ác tính chứ không phải mãn tính. Muỗi
Sài Gòn từng có tiếng cắn đau từ xưa. Tôi nhớ thuở ở Hà Nội, có một
ký giả chuyên viết film du jour trên nhật báo lấy bút hiệu là Muỗi Sài
Gòn.
Tôi sống với giấc mơ đẹp của tôi. Một đọan ngắn thôi " thuở mơ
làm văn sĩ ". Xin mời bước vào tập hồi ký này.
1999.
CHƯƠNG 1
Buổi sáng tinh mơ trời còn mờ sương, nằm trong giường với
mẹ, tôi đã nghe tiếng ngâm thơ của ông ngoại ở nhà ngoài. Tôi
không thể nào ngủ thêm được nữa. Tôi choàng dậy bò ra với ông
ngoại.
Trên sạp gụ trải chiếu hoa cạp điều trong căn nhà rộng thênh
thang, ông ngoại tôi ngồi đó, trước mặt là bộ đồ uống trà xinh
xinh,chiếc điếu ông bịt bạc cẩn có cần trúc cong vút, lò than tàu đất
nung nhỏ xíu rực lửa đỏ hồng bên trên đặt cái ấm quai vạc như đồ
chơi trẻ con, nước sôi vụt ra vòi. Tôi nhìn cái điếu bình của ông ngoại
chạm trổ cẩn xà cừ hình mấy ông tiên ngồi đánh cờ, cảnh núi sông
mây nước, xe điếu là những mắt trúc ngắn liền nhau uốn cong vút
như cần câu. Tất cả những " đồ chơi " xinh xinh của ông ngoại đều
khiến tôi ưa thích, say mê và mộng mơ.
Ông ngoại tôi mặc áo bông đoạn ấm áp ngồi xếp chân tròn ngay
ngắn, chăm lo ấm nước trà bốc khói thơm thoảng mùi hoa sen. Từ
chỗ ông ngồi nhìn ra ra ao sen rộng, ở đó neo một chiếc thuyền nan,
hoa sen nở đỏ chen lá xanh trên ao. Trên mặt ao còn lãng đãng
sương mù buổi sớm mai. Phía trước ao có một khoảng sân lát gạch
tàu không rộng lắm.
Phía xa kia, sau luỹ tre xanh, rặng núi Tam Đảo nhô cao che mất
một phần chân trời, sương mù như một giải khăn san bao quanh
ngọn núi.
Tôi leo lên lòng ông ngoại nằm cuộn tròn như một con mèo
ngoan ngoãn. Bàn tay ngoại xương xẩu với những móng dài lá lan lần
vào mái tóc xanh của tôi gãi nhè nhẹ, ông phủ một vạt áo lên người
tôi, ông vẫn tiếp tục ngâm thơ, mãi sau này khi lớn lên tôi mới biết
đó là một đoạn thơ Đường của Lý Bạch.
Quanh tôi, hương trà sen thơm thoang thoảng, mùi hạt bưởi
phơi khô dùng làm đóm hút thưốc lào, cháy thơm ngai ngái. Người ta
nói ông ngoại tôi có cách ẩm thực cầu kỳ lắm. Từ năm giờ sáng ông
đã ngồi trên chiếc thuyền nan bơi trên ao gạt ra khỏi đóa sen lấy
dúm trà ướp trọn đêm. Nước pha trà ông cũng hốt những hạt sương
đêm trong suốt đọng trên lá sen. Đóm hút thuốc lào của ông dứt
khoát phải bằng hột bưởi phơi khô và tách đôi, xiên bằng cái châm
bạc. Tôi nằm trong lòng ông ngoại nhìn khói thuốc chờn vờn trong
không khí mờ ảo làm nổi bật những câu đối sơn son thếp vàng treo
trong căn nhà ngang, những bức đại tự trên tường bên cạnh, bộ
tràng kỷ mặt bàn đá cẩm thạch. Tất cả cảnh vật đó, vòng tay ôm thân
ái của ông bao qianh tôi làm lòng tôi êm dịu rồi thiếp dần vào giấc
ngủ. Giấc ngủ bình yên thoải mái của tuổi ấu thơ thuở nào, thuở mà
tôi không bao giờ quên được.
Bây giờ thì ngoại không còn nữa.
Miền Trung Châu Bắc Việt, nơi ấy xa xôi rồi.....
Tôi dứt lời đọc bài tuỳ bút của mình, đám bạn bè vỗ tay rào rào.
Trong căn nhà nhỏ của Lê Đình Điểu, bút hiệu Y Dịch, người bạn học
với tôi trang hoàng diêm dúa một cách hết sức trẻ con. Trên tường,
ngay trước bàn học của Điểu có hàng chữ cắt dán màu đỏ bằng giấy
thủ công học trò " trụ sở thi văn đoàn Lãng Bạc ". Trên bảng đen ghi
chương trình phiên họp hàng tuần của thi văn đoàn cùng tên các bạn
thành viên trong nhóm. Điều quan trọng trên hết là chương trình có
ghi mục bình văn bài tuỳ bút của tôi.
Thi đoàn chúng tôi gồm sáu đứa cùng lứa tuổi choai choai, tất
cả đều là bạn học chung trường. Chúng tôi mới ở cấp trung học được
ba năm. Đặc biệt chúng tôi say mê văn nghệ, ngành văn thơ, như
nhiều anh chị em khác của các trường ngày đó, chúng tôi lập thi văn
đoàn, làm riêng những tờ báo chép tay, chuyền nhau đọc.Tôi nghĩ lối
chơi ấy rất lành mạnh của tuổi trẻ. Chúng từng phải nhịn quà sáng,
các bạn gái thì nhịn ô mai, me chua, tầm ruột chấm muối ớt để dành
tiền mua giấy bút làm báo. Tờ báo chúng tôi ra mỗi tháng một số
mang tên Thăng Long, thu hút được khá đông đảo bạn đọc trong
trường, có khi còn lan sang trường nữ. Địa chỉ toà soạn tờ báo chính
là nhà của Lê Đình Điểu. Chúng tôi sung sướng vì trò chơi đượm nét
văn hóa của mình. Hiện trong ngăn kéo của tổng thư ký văn đoàn
Lăng Bạc, Lê Đình Điểu, còn nhiều hồ sơ của các bạn " thi văn hữu "
nam nữ xin gia nhập. Nhưng điều đó còn xét đã, tổng thư ký Lê Đình
Điểu, bút hiệu Y Dịch luôn luôn quan trọng.
Sáu khuôn mặt " nòng cốt " chúng tôi hôm nay ngồi họp trịnh
trọng. Bởi vì tôi, người quan trọng nhất có bài được đăng báo, trong
trang văn nghệ học sinh. Điều quan trọng hơn nữa là tôi lại còn được
nhận tiền nhuận bút, không nhiều nhặn gì nhưng cũng đáng hãnh
diện. Rõ ràng là một tờ báo in ấn đàng hoàng phát hành khắp nước.
Vậy là tôi đã có thành tích trong nghiệp văn.
Sáng hôm nay cả đám anh em chúng tôi, chở nhau bằng xe đạp
đến tận toà báo để nhận báo biếu và tiền nhuận bút. Anh nhà văn Vân
Sơn, người phụ trách trang văn nghệ học sinh tiếp đón anh em chúng
tôi niềm nở. Ông chủ nhiệm và nhiều nhà văn nhà báo lớn bắt tay
chúng tôi. Rõ ràng tài năng tôi đã được đánh gía. Dù là một bài viết
con con.
Nhà văn Vân Sơn còn trẻ, có lẽ chưa tới tuổi 30. Anh mang kính
trắng gọng đồi mồi tròn xoe càng tăng thêm vẻ trí thức trên khuôn
mặt thanh tú rạng rỡ của anh. Sau một lúc tiếp chuyện, uống nước ở
phòng khách toà báo, khuyến khích chúng tôi trong việc sáng tác,
anh viết tên tôi vào tờ " bông " để xuống quản lý dưới lầu lãnh tiền
nhuận bút. Tay tôi run bắn lên vì cảm động khi ký vào " bông ".
- Không bao nhiêu đâu em, nhưng là cái duyên văn nghệ em nên
nhận chút tiền nhuân bút của toà báo, mong mỏi rằng anh sẽ nhận
được thêm nhiều bài vở văn thơ của các em.
Tôi sướng rơn, nhìn các bạn lòng đầy hãnh diện. Chỉ có một điều
tôi không mấy hài lòng là người phụ trách quên phức mất bút hiệu
của tôi, mà lại in tên thật. Cũng hơi rắc rối cho tôi, tôi không muốn
ai trong nhà biết tôi mang mộng làm văn sĩ. Nhưng chuyện đã lỡ rồi,
biết làm sao được. Cứ cho là" định mệnh đã an bài. "
Buổi sáng hôm ấy, thay vì tôi mời anh em một chầu đậu đỏ bánh
lọt, nước đá, mát rượi ở Bến Thành, anh em đều nhất trí tôi nên mua
một chai " si rô cam " về trụ sở, tức căn phòng của Le Đình Điểu, cả
căn nhà của Lê Đình Điểu vắng vẻ vì ba mẹ anh đi làm suốt ngày. Cho
nên chúng tôi mặc sức nói chuyện văn nghệ.
Sau chầu nước đá si rô, ăn bánh bích qui. Lê Đình Điểu làm công
tác của " nhà báo " với tôi, anh phỏng vấn:
- Xin " nhà văn " vui lòng cho biết cảm tưởng của anh về " tác
phẩm " anh cho đăng tải trên đại trang văn nghệ học sinh của đại
nhật báo Ngôn Luận.
Trời đất ôi, Lê Đình Điểu đã " bơm " trang văn nghệ học sinh
thành đại trang và tôi thành nhà văn. Có phải là giấc mơ không ? Tôi
liền trả lời thẳng ro, chẳng nghĩ ngợi gì:
- Khoái thấy mồ, khoái nhất là có tiền nhuận bút.
Miệng anh chàng Lê Đình Điểu dẻo như bán kẹo kéo, anh ta tán
tụng bài tuỳ bút của tôi một hồi, rồi tiếp:
- "Nhà văn " có buồn phiền gì khi " người ta " quên béng mất
không ghi bút hiệu của anh dưới " tác phẩm giá trị " đó không ?
Tôi suy nghĩ một lát rồi mới trả lời:
- Có chút chút, vì bút hiệu của tôi tra trong nhiều quyển từ điển
Hán Việt mới tìm ra, nay bỗng dưng bị " phang " luôn tên thật thì
cũng phiền thôi.
Phiền như thế nào thì ở đây không thể nói được. Tôi từ chối luôn
những câu hỏi hơi rắc rối của Lê Đình Điểu. Buổi họp chấm dứt
trong bầu không khí vui vẻ, liên hoan si rô đá với bánh kẹo. Tất cả
đều hài lòng. Tôi không quên bóc mấy cái kẹo bỏ túi. Tôi thành
người " vĩ đại " nhất trong đám bạn bè. tôi thả hồn lãng đãng trong
giấc mơ làm văn sĩ, tôi chỉ thành văn sĩ được thôi, không thể thành
thi sĩ được. Vì tôi biết mình không có khiếu làm thơ.
Tôi đạp xe quanh trong thành phố. Sài Gòn hôm nay đối với tôi
sao đẹp thế, nắng vàng rực rỡ trên những tàn cây đại lộ. Tôi đi qua
trường học, con đường rộng thênh thang. Hôm nay là ngày nghỉ sân
trường vắng vẻ, hàng phượng vĩ cũng bắt đầu trổ hoa, tôi nghe đâu
đây tiếng ve sầu kêu., tuy rằng không ran ran như những ngày cao
điểm mùa hè. Ngồi lại bên lề đường, ngẩng lên nhìn tàn cây phượng
vĩ. Tiếng ve sầu kêu, nó ở đâu nhỉ ? Dưới những chiếc lá xanh nhỏ xíu
hay những chùm hoa đỏ ? Tiếng ve sầu kêu, ở đâu cũng giống nhau.
Tiếng ve sầu ở Sài Gòn cũng giống như ở Hà Nội. Tôi xa Hà Nội đã
sáu năm rồi mà sao hình ảnh Hà Nội tôi vẫn nhớ như in, từ con
đường, góc phố. Tiếng ve kêu ở Nghi Tân, Cổ Ngư ở sân trường báo
hè về....Sân trường tiểu học Đỗ Hữu Vị ở cuối dốc phố Hàng Than.
Trước trường Hàng Than có một gánh phở sáng nào cũng đông
khách. Mùi nước phở thơm lừng. Những ngày đó tôi thường ao ước
được ăn một bát phở, nhưng gia đình bố mẹ tôi đều còn ở ngoài
kháng chiến. Tôi sống nhờ một ông bác ruột, dù bác có thương cũng
không thể bằng bố mẹ lo cho mình. Tôi nhạy cảm nên thường có
những lúc thầm tủi thân.
Buổi sáng hôm nay, tự bài mình viết được đăng báo. Tôi lại nhớ
miền Bắc, nhớ vùng Trung Châu Bắc Việt, nhớ thượng du, những nhớ
nhung xa xôi da diết. Hình ảnh bố mẹ tôi, gia đình tôi ngày đoàn tụ,
sự đoàn tụ thảm hại sau nhiều năm tháng. Bố tôi ở ngoài kháng
chiến trở về Hà Nội. Buổi chiều tôi đi học về, bố tôi ngồi đó với bác,
râu ria mọc tua tủa. Ông vốn đã lầm lì, may càng lại lầm lì hơn khi
nghe bài hát " trở về " của Hoàng Giác từ chiếc máy radio Philips ở
nhà bác. " tung cánh chim tìm về tổ ấm, nơi sống bao ngày giờ đằm
thắm......
Bố tôi nói với bác :
- Cơn sốt rét cách nhật của em lại đến rồi. Cứ cách ngày lại một
trân....anh cho em đi nằm, dứt cơn em lại ra nói chuyện với anh.....
Bố tôi chưa kịp có cái vuốt đầu tôi thì ông đã nằm rên hừ hừ.
Những cảnh đó bây giờ tôi đã thấy lại.
Như thời cha tôi làm việc ở Cục Kiến Tạo trên Đại Từ Thái
Nguyên. Cái cầu cheo leo bắc qua con sông Đại Từ nước chảy xiết.
Hôm nào đó cha tôi đưa tôi đến chiếc cầu treo ấy để tôi vể Hà Nội,
mẹ tôi đưa tôi về rồi trở đi ngay ít hôm sau. Tôi đứng khóc mùi trên
lan can nhà bác ở số 38 ngõ Hoà Mã buổi sáng Hà Nội sương mù....
Buổi tối, sau bữa cơm chiều, cha tôi ngồi uống trà với bác ở
phòng khách. Ông nói :
- Cám ơn anh, nhưng em không thể đi làm cho Pháp được. Em
không thể nào quên ngày anh Cả bị Tây giết ngoài hậu phương bởi
vậy em mới đi theo kháng chiến. Em về đây cũng chỉ vì vợ con. Được
anh vào các chú ấy ở Sài Gòn giúp đỡ em và vợ con em sẽ buôn bán
qua ngày, mong sao các con nên người, được học hành......Em nói
thật, em không ưa gì bọn vẹm nên mới về đây. Sống ở đâu cũng là
bất mãn thôi với những người bị coi là trí thức vô sản....
Một tháng sau gia đình tôi thuê được một căn nhà ở đầu phố
Trần Nhân Tôn và phố Huế trông sang chợ Hôm. Gia đình tôi mở cửa
hàng cơm, cha tôi bưng tô rửa chén. Ông đông bạn bè, toàn là bạn
bình dân xích lô, xe kéo, ông kiêm luôn nghề vẽ quảng cáo cho rạp xi
nê. Ông nguyên là hoạ sĩ xuất thân từ trường Cao Đẳng Mỹ Thuật
Đông Dương. Tôi hoà nhập vào đời sống Hà Nội. Tôi lang thang khắp
hang cùng ngõ hẻm, nghịch như quỷ sứ. Cha tôi nói như vậy. Ông
muốn hướng tới một hướng khác. Thế là gia đình tôi vào Sài Gòn. Tôi
được gửi ra Vũng Tàu học trường Thiếu Sinh Quân vì chú thứ năm
của tôi dạy học ở trường đó. chú tôi xin cho tôi được ngoại trú để
kèm học.
Nhưng thực tế không phải như vậy. Tôi ở nhà chú, không có thì
giờ để học vì có bà thím quá chua ngoa, quá quắt. Tôi bị đối xử tệ hại
còn hơn một đứa ở không công. Từ năm giờ sáng đã phải trở dậy dọn
hàng cho thím ở ngoài chợ, bẩy giờ mới được đi học. Trưa trở về coi
hàng cho thím. Hai giờ trưa lại đi học. Chiều về dọn hàng đến bẩy giờ
tối. Đẩy cả mấy xe bò ệt đầy nhóc hàng hoá. Tôi còn thì giờ đâu mà
học hành. Ngày chủ nhật cũng không được ra bãi biển chơi đùa như
các bạn mà phải ở nhà bổ củi. Sự học hành của tôi bắt buộc phải sút
giảm. Thím tôi điêu ngoa về Sài Gòn nói về tôi với bố mẹ tôi là một
đứa trẻ chẳng ra gì. Một ngày kia tôi chịu đựng không nổi bèn bỏ
nhà chú thím ra đi, ra bến tàu về Sài Gòn bằng đường thuỷ, muốn
thế nào cũng được. Nhưng tôi bị bắt trở lại. Tôi còn nhỏ bé quá đành
phó mặc cho số phận....Cho đến ngày điện tín bay ra VũngTàu báo tin
bố tôi chết đột ngột......Tôi đang bệnh nặng, chân tay phù thủng to
bằng cái chĩnh. Chú tôi xin vé máy bay của nhà binh Pháp trở về Sài
Gòn, cũng đúng là lúc đưa tang bố tôi ra nghĩa địa đô thành. Bộ
quân phục thiếu sinh quân của tôi chật cứng và chân không thể đi
nổi đội giầy, tôi lết đi bằng đội dép Nhật, chống gậy đi theo xe tang.
Cuộc trở về thảm nảo, tôi khóc vùi bên quan tài của cha.
Tôi cương quyết ở lại Sài Gòn với mẹ và em, không ra Vũng Tàu
nữa. Tôi bị coi là đứa cứng đầu. Xẩy cha nhờ chú. Tôi còn ông chú
thứ tư ở Sài Gòn. Ông này như ông bác thứ hai của tôi hết lòng vì em
vì cháu. Sự thật tôi được nhờ ông rèn cặp như chính các con của
ông, nên những năm đầu của trung học dù phải học lại lấy căn bản
nhưng cũng khá ra, không giỏi lắm, nhưng không đến nỗi dốt nát.
tôi luôn đứng đầu môn văn trong lớp, nhưng môn toán lại kém. Điều
mà chú tôi, một người khoa học không thích tí nào. Sau thời gian đi
chơi loanh quanh, tôi lo lắng biến thành sợ hãi. Tự đánh giá việc viết
văn của tôi là có tội, đại tội với chú. Sự trừng phạt không thể khác.
Tôi nghĩ đến cái chổi lông gà rung lên trên tay chú mà toát mồ hôi.
Tôi cầu cứu sự " cứu rỗi " ở đâu bây giờ ? Ở linh hồn bố tôi ? Mả của
ông ở dưới nghĩa địa Đô Thành. Tôi đạp xe xuống tuốt cuối đường Lê
Văn Duyệt, trước trại lính nhảy dù Nguyễn Trung Hiếu, ngồi trước
mồ cha tôi khấn khứa ông phù hộ cho tôi " tai qua nạn khỏi ". Tấm
tức khóc, khóc vì sợ hãi trận đòn đau, sẽ không tránh khỏi. Dù tôi
biết chú tôi trừng phạt vì thương không phải vì căm thù hoặc để thoả
lòng độc ác. Trời về chiều tôi mới ra về.
Tôi mồ côi cha, tuy còn mẹ, nhưng mẹ tôi phải lo buôn bán để
nuôi các em nhỏ của tôi. Tôi phải sống nhờ, học nhờ ngay nhà chú
ruột. Chú tôi là người học thức, chú có địa vị cao trong xã hội,
thương yêu cháu như những đứa con ruột của ông, nhưng ông vô
cùng nghiêm khắc, nhất là chuyện học hành.
Tôi đâm hoảng khi nghĩ đến chú, đôi mắt loang loáng sau cặp
kính trắng. Chếc chổi lông gà rung rung trong tay chú. Sau bữa cơm
chiều, anh em tôi nghỉ chơi một lát rồi ngồi vào bàn học. Ông chú tôi
thường xuyên xem bài vở chúng tôi và sẵn sàng chỉ dẫn cặn kẽ, ông
gầm thét như cọp khi thấy anh em tôi dốt nát, hoặc trong sổ điểm có
môn nào kém cỏi. Môn toán, tôi kém nhất. Ông nhìn vào môn văn,
dù rằng tôi luôn luôn vào hạng cao, nhưng ông chẳng có một lời
khen nào, mà chỉ nghe ông hừ hừ trong cổ họng. Ông lạnh lùng nói :
- Mày kém toán lắm, mày phải luyện cho giỏi, mấy bài toán đại số
tao ra mày đã làm xong chưa ?
Chú thường nhắc nhở với anh em chúng tôi như thế ! Chú yêu
thương chúng tôi, nhưng yêu thương theo kiểu của chú, tôi hiểu thế.
nhưng còn điều gì xảy ra cho tôi hôm nay, tôi biết rõ vào buổi chiều.
Tôi cho là một buổi chiều ảm đạm trong đời tôi, có lẽ là một
khúc quanh. Tôi không thể oán trách chú được. Tôi cố hiểu trong
vầng trán rộng của chú tôi hơi nhăn lại suy nghĩ gì, có lẽ không bình
thường như mọi khi, lúc trừng phạt con cháu lười biếng học hành.
Qua mắt tôi nhìn, ông là môt nhà khoa học, trong đầu ông chứa
toàn những bài toán rắc rối, mà tôi có học đến bạc đầu cũng không
giải nổi đáp số, nói chi đến những bài đại số, hình học tầm thường
tôi phải làm và học mỗi ngày.
Ông chú có cái lý của ông, lý của đấng làm cha mẹ, hoặc phải
thay cha mẹ lo cho tương lai máu mủ của mình. Quyền huynh thế
phụ, chú thay cha.
CHƯƠNG 2
Tôi nằm sấp trên đi văng, đầu ngóc lên như con thằn lằn. Xung
quanh tôi, đám con ông chú nhìn tôi bằng ánh mắt hãi sợ.
Tờ báo có bài tuỳ bút của tôi ký tên thật nằm ngay trước mặt và
chú tôi thì cầm chổi lông gà cán mây, đôi mắt ông lấp lánh sau cặp
kính trắng. Ông nổi giận, cơn giận có thể khủng khiếp lắm, nhưng
ông cố kìm lại bằng tiếng thở dài tuyệt vọng, ông khẽ lắc đầu :
- Long, con có nghe chú nói không ?
- Dạ, con nghe chú nói.
- Bố con chết được mấy năm rồi ?
- Dạ, thưa ba năm.
Giọng ông chú trở nên buồn bã:
- Bố con trước đây là một họa sĩ xuất thân từ Beaux Art ( Cao
Đẳng Mỹ Thuật ) Đông Dương ra có bằng cấp đàng hoàng mà suốt
đời chẳng làm nên trò trống gì. Sống nghèo rớt mùng tơi cho đến lúc
chết. Bố con kỳ vọng ở con rất nhiều, gửi con cho chú, hy vọng con
sẽ học hành đến nơi đến chốn, có bằng cấp làm nên ông nọ ông kia,
ngờ đâu con lại xao lãng việc học hành mơ làm văn sĩ, con chọn sai
đường rồi....
Giọng ông hằn học nhưng không kém phần buồn bã:
- Làm văn sĩ không phải là chuyện gì xấu xa, chú khẳng định như
vậy, nhưng đời nghệ sĩ khốn khổ lắm con ơi, nhất là nghệ sĩ ở đất
nước mình, mang cái nghiệp đó vào thân rồi khổ cả một đời đấy con
ạ. Con không thấy bao nhiêu văn nghệ sĩ ở đất nước mình than thân
trách phận đó sao: Anh thì than đói, than nghèo, than khổ, nợ nần
ngập đầu, rõ ràng là họ đã viết thành văn, làm thơ.....
Tôi ngạc nhiên vì thấy chú tôi đọc ra mấy câu thơ dẫn chứng cho
lối nói của ông. Hình như mấy câu thơ của Nguyễn Vỹ. Giọng chú tôi
như muốn gầm lên:
- Đấy nhé, chính mấy anh làm thơ viết văn nói ra để " khuyên đời
", răn đe những kẻ lăm le đi theo con đường ấy, chú không dặt điều
nói bậy. Chú khuyên vậy nhưng vẫn chưa thể ngấm vào da thịt con
được đâu. Chú cần phải cho con thấm hơn, thấm đến tận đầu, xương
tuỷ và nhớ đến già. Con xứng đáng nhận mười cái chổi lông gà....
Tôi kinh hoàng, nhưng biết làm sao được, đành nhắm mắt
nghiến răng chịu trận tỏ ra can đảm không khóc để giữ " sĩ khí " của
kẻ cầm bút. Cái chổi vun vút phết vào mông đít tôi bỏng rát, quả là
thấm đến tận tâm gan, tì, phế. Khi đó tôi chỉ mơ ước cái mông đít
của tôi bỗng dưng biến thành mo cau. Tôi không hét lên, nhưng nhất
định không van xin để bớt đòn.
Thằng Hiền, thằng em láu cá con chú, vô công rỗi nghề ngoác
miệng đếm từng roi, thỉnh thoảng nó còn đếm lộn. Con bé Hạnh giận
lên đùng đùng như chính nó bị ăn roi.
Trận mưa roi đã qua, tôi đau quắn đít mà không khóc được,
nhưng con bé Hạnh thì khóc nức nở đi " cứu thương " bằng cách đề
nghị xát muối ớt vào những vết thương " văn nghệ " của tôi lằn lên
như con lươn.
Cuối cùng ông chú nghiêm khắc của tôi cũng phải phì cười. Tôi
cuống cuồng van xin con bé Hạnh đừng cứu vớt " thể xác đớn đau "
của tôi cái kiểu đó.
Thằng Đức nhảy tưng tưng như mọi da đỏ, đếm:
- Mơ làm văn sĩ này....một, ái da đau. Mơ làm văn sĩ này....hai. Ối
chu choa. Mơ làm văn sĩ này....ba. Trời đất ơi....
Cứ thế nó đếm tới mười, cho đến lúc cả bọn bị chú nạt lên mới
chịu im
Buổi tối hôm ấy đến giờ học bài, chú tôi kiểm soát bài vở chặt
chẽ của tôi và chú đã khám phá ra khá nhiều bài thơ tôi chép vào sau
cuốn vở toán. Ông lắc đầu ngao ngán:
- " Thi văn đoàn Lãng Bạc " của mày không biết là cái quái gì.
Mày đáng được hưởng thêm mười cái chổi lông gà nữa rồi con Hạnh
sát muối ớt vào đít. Làm toán đi, mày phải làm xong mấy bài toán đại
số này không thì chết đòn, suốt ngày mơ mơ mộng mộng, nút mắt ra
đã làm thơ tình ái, nguy hiểm đáng báo động.
Một sự thật hết chối cãi, cái tên thật của tôi làm sao giấu chú
được. Phần thì đớn đau mông đít, phần thì tủi thân vì bị " đàn áp ".
Tôi ra vườn một mình ngồi " sầu thế sự ".
Dưới bóng lá cây chấp chới trên đầu, tôi ngước lên ước ao nhìn
thấy một ngôi sao cô đơn. Đêm này thật yên tĩnh, bây giờ tôi mới
khóc được. Nước mắt tôi nhoè nhoẹt, ngôi sao của tôi cũng mờ
đi.....Chỉ còn một ngôi sao cô đơn làm bạn với tôi giữa đêm trường
thanh vắng. Sương đêm xuống nhiều, trời hơi lành lạnh. Có lẽ giờ này
chú tôi đã ngủ yên giấc, đời sống chú tôi rất mực thước và kỷ luật,
chú luôn luôn theo đúng giờ giấc như chiếc đồng hồ treo tường của
chú, kể cả lúc chú chơi văn nghệ giải trí. Đúng sáu giờ chiều chú ôm
cây đàn Mandoline, gảy tưng tưng đúng mười lăm phút, tôi đếm được
3 bản nhạc, có khi chỉ hai bài rưỡi chú ngừng vì đã hết giờ. Sau đó
đọc báo 45 phút. Bảy giờ chiều ăn cơm, nghỉ một lát. Tám giờ tối
chúng tôi vào phòng học. Đến 9 giờ 15 tối tất cả chúng tôi phải đi
ngủ. Sáu giờ sáng tất cả phải dậy ra sân tập thể thao với ông. Bảy giờ
sáng làm vệ sinh cá nhân, ăn điểm tâm rồi đi học.
Trong tủ sách của ông ngoài những sách toán, khoa học, ngoại
ngữ tôi thấy thêm loại sách " học làm người ".
Chỉ riêng ngày hôm nay ông phá lệ " ban " cho tôi một trận đòn
nên thân vì tôi dám mơ ước làm văn sĩ. Cái nghề văn sĩ, thi sĩ qua con
mắt môt người mực thước như ông là một nghề cùn mằn, dở ông dở
thằng, bất mãn đời mới lao vào. Con người đó là con người lung tung
chẳng còn ra làm sao hết, tự hại mình, ăn hoang phá hoại, trác táng
hư hỏng. Mất cả đàng hoàng đứng đắn. Tôi có thể lây cái tính nghệ sĩ
đó sang các con ông không chừng. Tôi biết trong đầu ông nghĩ như
thế. Tôi nguyện sẽ ghi điều này vào nhật ký. Như Anne Frank. Tôi lại
mơ mộng mình viết nhật ký như thế nào cho lâm ly thống thiết.
Nhưng nguồn cảm hứng tôi bị cắt ngang thảm hại, vì không phải chỉ
có mình tôi ngồi trong khu vườn quạnh quẽ đêm hôm khuya khoắt
này.
Tôi nghe tiếng động, tiếng cành cây khô gãy dưới bước chân ai.
Lạy trời, không phải là chú ! Không phải là chú. Con chó lông xù
nhảy chồm lên liếm mặt tôi lia lịa. Con chó Lu tất nhiên có bé Hạnh.
Quả nhiên cái bóng của nó ló ra ngay sau đó. giọng con bé đầy ngậm
ngùi:
- Ba đánh anh Long đau lắm hả ?
Tôi nổi cáu:
- Vớ vẩn, kệ tao, ông ấy mà biết lại khốn khổ cho mày thôi, vào
nhà ngủ đi.
Giọng con bé Hạnh thì thào:
- Ba không biết đâu, ngủ rồi, mà anh có đau không ?
Tôi bực mình vì con bé Hạnh lẩn thẩn:
- Bị đánh mà không đau sao cho được, thân xác người ta chứ có
phải.......
Con Lu vẫn chồm lên liếm mặt tôi, rít lên những tiếng thật dễ
thương. Bé Hạnh mau mắn:
- Em có mang thuốc ra cho anh, để em xức thuốc cho anh.
Tôi giật nẩy mình, giọng thảng thốt:
- Thuốc gì vậy?
- Muối ớt, có trộn thêm tiêu nữa.
Tôi la lên:
- Vậy thì chết tao rồi, mày có cho thêm hành tỏi dấm chua nữa
không, như nước mắm cơm tấm bì.
Trong ánh sáng mờ mờ của sao đêm, tôi cũng nhận thấy mặt cô
bé nghệt ra vì ngây thơ vô tội, không hiểu gì hết.
- Chưa có thêm hành tỏi dấm, em vào bếp lấy thêm.
Đang buồn tôi cũng bật phì cười, chắp tay vái cô em gái lia lịa:
- Tao van mày, tao lạy mầy trăm lạy, mày cứu thương kiểu đó
bằng g...
THUỞ MƠ LÀM VĂN SĨ
Tác giả: Nguyễn Thụy Long
Nguồn text: vietmessenger
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
TỰA
Năm 1950. Ở Hà Nội, tôi 10 tuổi, mới đậu xong bằng tiểu học,
sửa soạn thi vào lớp đệ thất ( lớp 6 bây giờ ) trường trung học Chu
Văn An. Nghĩa là sẽ trở thành học sinh trường bưởi danh tiếng xưa kia
đấy. Nhưng là tuổi ăn tuổi chơi. Ba tháng hè, tôi tham gia tất cả những
trò chơi trẻ con ở Hà Nội. Đánh đinh, đánh đáo, sưu tầm programes ở
những rạp chiếu phim, xem ciné và đọc truyện.
Có lẽ thứ mà tôi đam mê nhất là đọc truyện. Tôi đọc lung tung đủ
thứ truyện, từ truyện kiếm hiệp đến mọi loại tiểu thuyết, in thành từng
tập mỏng phát hành mỗi tuần mà cha tôi gọi là tiểu thuyết ba xu. Gom
góp từng tập mỏng ấy để đóng lại thành pho sách dầy. Những truyện
đăng trên báo tôi cũng cắt đóng lại thành từng tập. Không kể việc sưu
tầm từng cuốn tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn mà tôi rất ngưỡng
mộ. Tất cả những cuốn sách cũ, đôi khi nát phải tự phục chế. Lý do
đơn giản là tôi không có tiền để mua những cuốn tiểu thuyết tinh còn
thơm mùi mực in.
Tôi ngưỡng mộ biết bao nhiêu tác giả. Mơ ước ngày nào đó mình
được như họ. Tôi mê đến độ, có thể đọc tiểu thuyết bất cứ lúc nào
không phải chỉ ở những ngày rảnh rỗi. Thường xúc động về tình huống
số phận của các nhân vật. Mùa rét nằm trong chăn bông đọc tiểu
thuyết. Tôi nhớ đọc cuốn "Người anh cả " của Lê Văn Trương, tôi cũng
là anh cả trong gia đình nhỏ bé của mình, thế là tôi xúc động. Chui
vào trongchăn khóc thoả thích. Khóc sưng cả mắt, vì thương thân
phận người anh cả trong tiểu thuyết đó quá. Sau này, và đến bây giờ
tôi vẫn thường mủi lòng trước những hoàn cảnh, có thể trong tiểu
thuyết, đời thật hay phim ảnh. Nếu bạn bè tôi có nhận xét về tôi :
Trông con người nó hung hãn như vậy, nhưng tâm hồn thì yếu đuối.
Thuở bé xem phim Charlot. Phim The Kid ( dịch ra tiếng Việt là
Gà trống nuôi con ) khi Charlot lạc mất đức con nuôi, Charlot buồn
ngẩn người ra. Tôi cũng chảy nước mắt. Còn nhiều, rất nhiều tình
huống khác, trong tiểu thuyết hay trong phim ảnh làm cho tôi mủi lòng,
đến rơi lệ.
Không biết đó có phải là con đường gai góc mà tôi đã chọn khi
cầm bút không ? Khi ở Hà Nội, tôi trao lại cho thằng em họ tủ sách. Ra
đi nhưng vẫn thăm hỏi về những cuốn tiểu thuyết. Sau năm 1954 thì
viết bưu thiếp, cho đến lúc bặt tin. Rồi nhiều chục năm qua....tôi trở
thành nhà báo, nhà văn......Cũng là một đời lỡ mà thôi. Nhưng tôi
hãnh diện làm sao khi chọn nghề cầm bút.
Sau năm 1975. Miền Nam bại trận, người chiến thắng vào thành
phố. Những cuốn sách in ấn phát hành ở miền Nam bị kết tội phản
động, bèn được đem ra thiêu đốt. Tôi đứng nhìn tro tàn khói bay, cầu
xin cho nó được phiêu diêu miền cực lạc. Tôi cũng đã chứng kiến
nhiều tác giả khóc những cuốn sách trên đống tro tàn. Người buôn bán
sách, nhưng suốt một đời yêu quý sách, nên làm sách, in ấn sách,
đứng ngẩn như người mất hồn trước nhà sách, mà chính là kho sách
vĩ đại của mình ở đại lộ Lê Lợi. Nhà sách Khai Trí nay đã đổi tên chủ.
Tôi muốn nói ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trường. Một đời ông
dành cho những cuốn sách, không phải mình là tác giả mà của nhiều
người khác. Ông có cái đam mê của ông, đam mê đến cuối đời. Mấy ai
đã được sống đến trăm tuổi, nay tuổi ông Khai Trí đã 80. Hơn nửa đời
người kinh doanh sách, nhưng không thể gọi ông từ hạ đẳng là " đầu
nậu" sách. Như có lần sau khi nhà sách Khai Trí tịch biên, tôi đã nghe
lời miệt thị ấy của một nhà văn muốn lập công. Ví như loài cỏ " đuôi
chó " mà ông Phan Khôi đã viết hồi nào trong Nhân Văn Giai Phẩm.
Tôi nói ít ai thọ được trăm tuổi. Học giả Vương Hồng Sển đã là thọ mà
chỉ sống được 94 tuổi. Không như điều mơ ước của cụ, thọ tròn một
thế kỷ để nhìn cho rõ hơn " nhân tình thế thái ". Năm ngoái, tôi gặp học
giả Giản Chi. Cụ đã 94. Người yếu lắm rồi, cụ đi phải có người dìu.
Nhưng tôi nghe nói cụ vẫn đọc sách, vẫn nghiên cứu. Cụ đọc sách
bằng kính lúp soi trên trang giấy. Đáng quý lắm sao.
Cách nay một năm tôi gặp ông Khai Trí trong bữa giỗ ông Chu
Tử. Tôi hỏi ông rằng cái nhà sách Khai Trí của ông ở đường Lê Lợi
ông đã xin lại được chưa ? Sau khi ông từ Mỹ về và đã hồi tịch trở lại
người Việt Nam. Ông cười và trả lời :
- Sẽ xin lại được, thời hạn trả lại là năm 3000.
Tôi chưa lẩm cẩm đến độ không hiểu nổi câu trả lời ấy là lời chua
chát của một người kiên tâm với cái nghiệp của mình nay đã quá chán
nản.
Câu chuyện văn nghệ vòng vòng, tôi nhắc đến một bài mới đây
viết trên báo chí nhắc ông Khai Trí, có người nhà văn, cũng ông đó, đã
hết lòng ca tụng sự hào sảng của ông chủ nhà sách danh tiếng. Ông
Khai Trí đã chậm rãi trả lời :
- Tôi biết anh đó, khi tôi ngồi ở Chí Hoà anh ta đi với phái đòan
vào thăm tù. Anh từng biết tôi, nhưng hôm ấy anh ta nhìn tôi như nhìn
những người tù khác chưa hề quen biết. Vì khi đó tất cả chúng ta đều là
kẻ ngã ngựa, bị kết án....
Tôi thoáng nhìn thấy nụ cười ruồi của ông Khai Trí:
- Nhắc lại làm chi không biết nữa.
Đúng vậy, nhắc lại làm chi, nói theo thổ ngữ Nam Kỳ.
Tôi suy nghĩ hoài về câu nói ấy. Một câu nói thóang nghe thì tầm
thường, nhưng suy nghĩ thì nó đòi hỏi ở người cầm bút thật nhiều đấy.
Tuổi đời, kinh nghiệm đời không chưa đủ, còn đòi ngưòi cầm bút có
một điều kiện khác. Có xứng đáng để cầm bút mà viết không ?
Đã rất nhiều đêm tôi ngồi trên căn gác cắn bút suy nghĩ. Nên cầm
lại cây bút hoặc không nên. Cuối cùng thì tôi đã có quyết định. bây giờ
thì dĩ vãng dồn dậy trong tôi.
Trước đây tôi đã viết dang dở tập hồi ký " thuở mơ làm văn sĩ " ở
một tuần báo thiếu nhi trước năm 75. Sau đó tôi viết lại, những mong
" đăng báo " được. Nhưng bị đánh giá thấp qua biên tập. Tập hồi ký
chẳng ca tụng được caí gì. Chỉ ca tụng một giấc mơ, giấc mơ của một
kẻ mơ làm văn sĩ. Tôi đành gác bút.....
Gần nửa đời người làm việc cầm bút. Đến nay không giữ được
quyển sách nào của mình viết ra. Trận hoả tai năm 75, không phải
riêng tôi bị thiệt hại mà nhiều bạn bè đồng nghiệp của tôi cũng cùng
chung số phận và còn trở thành tội phạm, bị đem ra trưng bày tại
phòng trưng bày " tội ác Mỹ Nguỵ " Nhiều năm dài những cuốn sách
của tôi, của chúng tôi bị cầm tù. Tôi không có tiền, lộ phí, không có
giấy tờ tuỳ thân đàng hoàng. Đến bây giờ tôi cũng không đi. Phải
chăng tôi muốn giữ mãi hình ảnh của Hà Nội, của những con đường
những tỉnh miền Bắc tôi đã đi qua nguyên vẹn như thuở nào ? Tôi
không trả lời của chính câu hỏi mình tự đặt ra.
Tôi như nhìn thấy mình thuở mới bước qua tuổi trẻ thơ mang ước
mơ mình trở thành văn sĩ. Ôi giấc mơ mới đẹp và ngọt ngào làm sao.
Đến bây giờ cũng vậy, tôi không coi giấc mơ đó là oan nghiệt hay
nghiệp chướng phủ phàng.
Muỗi đêm nay sao ra nhiều thế, nó cắn tôi nhoi nhói. Không biết
có con muỗi nào mang mầm bệnh không ? Nếu có chắc chắn là nó
truyền cho tôi căn bệnh nào đó ác tính chứ không phải mãn tính. Muỗi
Sài Gòn từng có tiếng cắn đau từ xưa. Tôi nhớ thuở ở Hà Nội, có một
ký giả chuyên viết film du jour trên nhật báo lấy bút hiệu là Muỗi Sài
Gòn.
Tôi sống với giấc mơ đẹp của tôi. Một đọan ngắn thôi " thuở mơ
làm văn sĩ ". Xin mời bước vào tập hồi ký này.
1999.
CHƯƠNG 1
Buổi sáng tinh mơ trời còn mờ sương, nằm trong giường với
mẹ, tôi đã nghe tiếng ngâm thơ của ông ngoại ở nhà ngoài. Tôi
không thể nào ngủ thêm được nữa. Tôi choàng dậy bò ra với ông
ngoại.
Trên sạp gụ trải chiếu hoa cạp điều trong căn nhà rộng thênh
thang, ông ngoại tôi ngồi đó, trước mặt là bộ đồ uống trà xinh
xinh,chiếc điếu ông bịt bạc cẩn có cần trúc cong vút, lò than tàu đất
nung nhỏ xíu rực lửa đỏ hồng bên trên đặt cái ấm quai vạc như đồ
chơi trẻ con, nước sôi vụt ra vòi. Tôi nhìn cái điếu bình của ông ngoại
chạm trổ cẩn xà cừ hình mấy ông tiên ngồi đánh cờ, cảnh núi sông
mây nước, xe điếu là những mắt trúc ngắn liền nhau uốn cong vút
như cần câu. Tất cả những " đồ chơi " xinh xinh của ông ngoại đều
khiến tôi ưa thích, say mê và mộng mơ.
Ông ngoại tôi mặc áo bông đoạn ấm áp ngồi xếp chân tròn ngay
ngắn, chăm lo ấm nước trà bốc khói thơm thoảng mùi hoa sen. Từ
chỗ ông ngồi nhìn ra ra ao sen rộng, ở đó neo một chiếc thuyền nan,
hoa sen nở đỏ chen lá xanh trên ao. Trên mặt ao còn lãng đãng
sương mù buổi sớm mai. Phía trước ao có một khoảng sân lát gạch
tàu không rộng lắm.
Phía xa kia, sau luỹ tre xanh, rặng núi Tam Đảo nhô cao che mất
một phần chân trời, sương mù như một giải khăn san bao quanh
ngọn núi.
Tôi leo lên lòng ông ngoại nằm cuộn tròn như một con mèo
ngoan ngoãn. Bàn tay ngoại xương xẩu với những móng dài lá lan lần
vào mái tóc xanh của tôi gãi nhè nhẹ, ông phủ một vạt áo lên người
tôi, ông vẫn tiếp tục ngâm thơ, mãi sau này khi lớn lên tôi mới biết
đó là một đoạn thơ Đường của Lý Bạch.
Quanh tôi, hương trà sen thơm thoang thoảng, mùi hạt bưởi
phơi khô dùng làm đóm hút thưốc lào, cháy thơm ngai ngái. Người ta
nói ông ngoại tôi có cách ẩm thực cầu kỳ lắm. Từ năm giờ sáng ông
đã ngồi trên chiếc thuyền nan bơi trên ao gạt ra khỏi đóa sen lấy
dúm trà ướp trọn đêm. Nước pha trà ông cũng hốt những hạt sương
đêm trong suốt đọng trên lá sen. Đóm hút thuốc lào của ông dứt
khoát phải bằng hột bưởi phơi khô và tách đôi, xiên bằng cái châm
bạc. Tôi nằm trong lòng ông ngoại nhìn khói thuốc chờn vờn trong
không khí mờ ảo làm nổi bật những câu đối sơn son thếp vàng treo
trong căn nhà ngang, những bức đại tự trên tường bên cạnh, bộ
tràng kỷ mặt bàn đá cẩm thạch. Tất cả cảnh vật đó, vòng tay ôm thân
ái của ông bao qianh tôi làm lòng tôi êm dịu rồi thiếp dần vào giấc
ngủ. Giấc ngủ bình yên thoải mái của tuổi ấu thơ thuở nào, thuở mà
tôi không bao giờ quên được.
Bây giờ thì ngoại không còn nữa.
Miền Trung Châu Bắc Việt, nơi ấy xa xôi rồi.....
Tôi dứt lời đọc bài tuỳ bút của mình, đám bạn bè vỗ tay rào rào.
Trong căn nhà nhỏ của Lê Đình Điểu, bút hiệu Y Dịch, người bạn học
với tôi trang hoàng diêm dúa một cách hết sức trẻ con. Trên tường,
ngay trước bàn học của Điểu có hàng chữ cắt dán màu đỏ bằng giấy
thủ công học trò " trụ sở thi văn đoàn Lãng Bạc ". Trên bảng đen ghi
chương trình phiên họp hàng tuần của thi văn đoàn cùng tên các bạn
thành viên trong nhóm. Điều quan trọng trên hết là chương trình có
ghi mục bình văn bài tuỳ bút của tôi.
Thi đoàn chúng tôi gồm sáu đứa cùng lứa tuổi choai choai, tất
cả đều là bạn học chung trường. Chúng tôi mới ở cấp trung học được
ba năm. Đặc biệt chúng tôi say mê văn nghệ, ngành văn thơ, như
nhiều anh chị em khác của các trường ngày đó, chúng tôi lập thi văn
đoàn, làm riêng những tờ báo chép tay, chuyền nhau đọc.Tôi nghĩ lối
chơi ấy rất lành mạnh của tuổi trẻ. Chúng từng phải nhịn quà sáng,
các bạn gái thì nhịn ô mai, me chua, tầm ruột chấm muối ớt để dành
tiền mua giấy bút làm báo. Tờ báo chúng tôi ra mỗi tháng một số
mang tên Thăng Long, thu hút được khá đông đảo bạn đọc trong
trường, có khi còn lan sang trường nữ. Địa chỉ toà soạn tờ báo chính
là nhà của Lê Đình Điểu. Chúng tôi sung sướng vì trò chơi đượm nét
văn hóa của mình. Hiện trong ngăn kéo của tổng thư ký văn đoàn
Lăng Bạc, Lê Đình Điểu, còn nhiều hồ sơ của các bạn " thi văn hữu "
nam nữ xin gia nhập. Nhưng điều đó còn xét đã, tổng thư ký Lê Đình
Điểu, bút hiệu Y Dịch luôn luôn quan trọng.
Sáu khuôn mặt " nòng cốt " chúng tôi hôm nay ngồi họp trịnh
trọng. Bởi vì tôi, người quan trọng nhất có bài được đăng báo, trong
trang văn nghệ học sinh. Điều quan trọng hơn nữa là tôi lại còn được
nhận tiền nhuận bút, không nhiều nhặn gì nhưng cũng đáng hãnh
diện. Rõ ràng là một tờ báo in ấn đàng hoàng phát hành khắp nước.
Vậy là tôi đã có thành tích trong nghiệp văn.
Sáng hôm nay cả đám anh em chúng tôi, chở nhau bằng xe đạp
đến tận toà báo để nhận báo biếu và tiền nhuận bút. Anh nhà văn Vân
Sơn, người phụ trách trang văn nghệ học sinh tiếp đón anh em chúng
tôi niềm nở. Ông chủ nhiệm và nhiều nhà văn nhà báo lớn bắt tay
chúng tôi. Rõ ràng tài năng tôi đã được đánh gía. Dù là một bài viết
con con.
Nhà văn Vân Sơn còn trẻ, có lẽ chưa tới tuổi 30. Anh mang kính
trắng gọng đồi mồi tròn xoe càng tăng thêm vẻ trí thức trên khuôn
mặt thanh tú rạng rỡ của anh. Sau một lúc tiếp chuyện, uống nước ở
phòng khách toà báo, khuyến khích chúng tôi trong việc sáng tác,
anh viết tên tôi vào tờ " bông " để xuống quản lý dưới lầu lãnh tiền
nhuận bút. Tay tôi run bắn lên vì cảm động khi ký vào " bông ".
- Không bao nhiêu đâu em, nhưng là cái duyên văn nghệ em nên
nhận chút tiền nhuân bút của toà báo, mong mỏi rằng anh sẽ nhận
được thêm nhiều bài vở văn thơ của các em.
Tôi sướng rơn, nhìn các bạn lòng đầy hãnh diện. Chỉ có một điều
tôi không mấy hài lòng là người phụ trách quên phức mất bút hiệu
của tôi, mà lại in tên thật. Cũng hơi rắc rối cho tôi, tôi không muốn
ai trong nhà biết tôi mang mộng làm văn sĩ. Nhưng chuyện đã lỡ rồi,
biết làm sao được. Cứ cho là" định mệnh đã an bài. "
Buổi sáng hôm ấy, thay vì tôi mời anh em một chầu đậu đỏ bánh
lọt, nước đá, mát rượi ở Bến Thành, anh em đều nhất trí tôi nên mua
một chai " si rô cam " về trụ sở, tức căn phòng của Le Đình Điểu, cả
căn nhà của Lê Đình Điểu vắng vẻ vì ba mẹ anh đi làm suốt ngày. Cho
nên chúng tôi mặc sức nói chuyện văn nghệ.
Sau chầu nước đá si rô, ăn bánh bích qui. Lê Đình Điểu làm công
tác của " nhà báo " với tôi, anh phỏng vấn:
- Xin " nhà văn " vui lòng cho biết cảm tưởng của anh về " tác
phẩm " anh cho đăng tải trên đại trang văn nghệ học sinh của đại
nhật báo Ngôn Luận.
Trời đất ôi, Lê Đình Điểu đã " bơm " trang văn nghệ học sinh
thành đại trang và tôi thành nhà văn. Có phải là giấc mơ không ? Tôi
liền trả lời thẳng ro, chẳng nghĩ ngợi gì:
- Khoái thấy mồ, khoái nhất là có tiền nhuận bút.
Miệng anh chàng Lê Đình Điểu dẻo như bán kẹo kéo, anh ta tán
tụng bài tuỳ bút của tôi một hồi, rồi tiếp:
- "Nhà văn " có buồn phiền gì khi " người ta " quên béng mất
không ghi bút hiệu của anh dưới " tác phẩm giá trị " đó không ?
Tôi suy nghĩ một lát rồi mới trả lời:
- Có chút chút, vì bút hiệu của tôi tra trong nhiều quyển từ điển
Hán Việt mới tìm ra, nay bỗng dưng bị " phang " luôn tên thật thì
cũng phiền thôi.
Phiền như thế nào thì ở đây không thể nói được. Tôi từ chối luôn
những câu hỏi hơi rắc rối của Lê Đình Điểu. Buổi họp chấm dứt
trong bầu không khí vui vẻ, liên hoan si rô đá với bánh kẹo. Tất cả
đều hài lòng. Tôi không quên bóc mấy cái kẹo bỏ túi. Tôi thành
người " vĩ đại " nhất trong đám bạn bè. tôi thả hồn lãng đãng trong
giấc mơ làm văn sĩ, tôi chỉ thành văn sĩ được thôi, không thể thành
thi sĩ được. Vì tôi biết mình không có khiếu làm thơ.
Tôi đạp xe quanh trong thành phố. Sài Gòn hôm nay đối với tôi
sao đẹp thế, nắng vàng rực rỡ trên những tàn cây đại lộ. Tôi đi qua
trường học, con đường rộng thênh thang. Hôm nay là ngày nghỉ sân
trường vắng vẻ, hàng phượng vĩ cũng bắt đầu trổ hoa, tôi nghe đâu
đây tiếng ve sầu kêu., tuy rằng không ran ran như những ngày cao
điểm mùa hè. Ngồi lại bên lề đường, ngẩng lên nhìn tàn cây phượng
vĩ. Tiếng ve sầu kêu, nó ở đâu nhỉ ? Dưới những chiếc lá xanh nhỏ xíu
hay những chùm hoa đỏ ? Tiếng ve sầu kêu, ở đâu cũng giống nhau.
Tiếng ve sầu ở Sài Gòn cũng giống như ở Hà Nội. Tôi xa Hà Nội đã
sáu năm rồi mà sao hình ảnh Hà Nội tôi vẫn nhớ như in, từ con
đường, góc phố. Tiếng ve kêu ở Nghi Tân, Cổ Ngư ở sân trường báo
hè về....Sân trường tiểu học Đỗ Hữu Vị ở cuối dốc phố Hàng Than.
Trước trường Hàng Than có một gánh phở sáng nào cũng đông
khách. Mùi nước phở thơm lừng. Những ngày đó tôi thường ao ước
được ăn một bát phở, nhưng gia đình bố mẹ tôi đều còn ở ngoài
kháng chiến. Tôi sống nhờ một ông bác ruột, dù bác có thương cũng
không thể bằng bố mẹ lo cho mình. Tôi nhạy cảm nên thường có
những lúc thầm tủi thân.
Buổi sáng hôm nay, tự bài mình viết được đăng báo. Tôi lại nhớ
miền Bắc, nhớ vùng Trung Châu Bắc Việt, nhớ thượng du, những nhớ
nhung xa xôi da diết. Hình ảnh bố mẹ tôi, gia đình tôi ngày đoàn tụ,
sự đoàn tụ thảm hại sau nhiều năm tháng. Bố tôi ở ngoài kháng
chiến trở về Hà Nội. Buổi chiều tôi đi học về, bố tôi ngồi đó với bác,
râu ria mọc tua tủa. Ông vốn đã lầm lì, may càng lại lầm lì hơn khi
nghe bài hát " trở về " của Hoàng Giác từ chiếc máy radio Philips ở
nhà bác. " tung cánh chim tìm về tổ ấm, nơi sống bao ngày giờ đằm
thắm......
Bố tôi nói với bác :
- Cơn sốt rét cách nhật của em lại đến rồi. Cứ cách ngày lại một
trân....anh cho em đi nằm, dứt cơn em lại ra nói chuyện với anh.....
Bố tôi chưa kịp có cái vuốt đầu tôi thì ông đã nằm rên hừ hừ.
Những cảnh đó bây giờ tôi đã thấy lại.
Như thời cha tôi làm việc ở Cục Kiến Tạo trên Đại Từ Thái
Nguyên. Cái cầu cheo leo bắc qua con sông Đại Từ nước chảy xiết.
Hôm nào đó cha tôi đưa tôi đến chiếc cầu treo ấy để tôi vể Hà Nội,
mẹ tôi đưa tôi về rồi trở đi ngay ít hôm sau. Tôi đứng khóc mùi trên
lan can nhà bác ở số 38 ngõ Hoà Mã buổi sáng Hà Nội sương mù....
Buổi tối, sau bữa cơm chiều, cha tôi ngồi uống trà với bác ở
phòng khách. Ông nói :
- Cám ơn anh, nhưng em không thể đi làm cho Pháp được. Em
không thể nào quên ngày anh Cả bị Tây giết ngoài hậu phương bởi
vậy em mới đi theo kháng chiến. Em về đây cũng chỉ vì vợ con. Được
anh vào các chú ấy ở Sài Gòn giúp đỡ em và vợ con em sẽ buôn bán
qua ngày, mong sao các con nên người, được học hành......Em nói
thật, em không ưa gì bọn vẹm nên mới về đây. Sống ở đâu cũng là
bất mãn thôi với những người bị coi là trí thức vô sản....
Một tháng sau gia đình tôi thuê được một căn nhà ở đầu phố
Trần Nhân Tôn và phố Huế trông sang chợ Hôm. Gia đình tôi mở cửa
hàng cơm, cha tôi bưng tô rửa chén. Ông đông bạn bè, toàn là bạn
bình dân xích lô, xe kéo, ông kiêm luôn nghề vẽ quảng cáo cho rạp xi
nê. Ông nguyên là hoạ sĩ xuất thân từ trường Cao Đẳng Mỹ Thuật
Đông Dương. Tôi hoà nhập vào đời sống Hà Nội. Tôi lang thang khắp
hang cùng ngõ hẻm, nghịch như quỷ sứ. Cha tôi nói như vậy. Ông
muốn hướng tới một hướng khác. Thế là gia đình tôi vào Sài Gòn. Tôi
được gửi ra Vũng Tàu học trường Thiếu Sinh Quân vì chú thứ năm
của tôi dạy học ở trường đó. chú tôi xin cho tôi được ngoại trú để
kèm học.
Nhưng thực tế không phải như vậy. Tôi ở nhà chú, không có thì
giờ để học vì có bà thím quá chua ngoa, quá quắt. Tôi bị đối xử tệ hại
còn hơn một đứa ở không công. Từ năm giờ sáng đã phải trở dậy dọn
hàng cho thím ở ngoài chợ, bẩy giờ mới được đi học. Trưa trở về coi
hàng cho thím. Hai giờ trưa lại đi học. Chiều về dọn hàng đến bẩy giờ
tối. Đẩy cả mấy xe bò ệt đầy nhóc hàng hoá. Tôi còn thì giờ đâu mà
học hành. Ngày chủ nhật cũng không được ra bãi biển chơi đùa như
các bạn mà phải ở nhà bổ củi. Sự học hành của tôi bắt buộc phải sút
giảm. Thím tôi điêu ngoa về Sài Gòn nói về tôi với bố mẹ tôi là một
đứa trẻ chẳng ra gì. Một ngày kia tôi chịu đựng không nổi bèn bỏ
nhà chú thím ra đi, ra bến tàu về Sài Gòn bằng đường thuỷ, muốn
thế nào cũng được. Nhưng tôi bị bắt trở lại. Tôi còn nhỏ bé quá đành
phó mặc cho số phận....Cho đến ngày điện tín bay ra VũngTàu báo tin
bố tôi chết đột ngột......Tôi đang bệnh nặng, chân tay phù thủng to
bằng cái chĩnh. Chú tôi xin vé máy bay của nhà binh Pháp trở về Sài
Gòn, cũng đúng là lúc đưa tang bố tôi ra nghĩa địa đô thành. Bộ
quân phục thiếu sinh quân của tôi chật cứng và chân không thể đi
nổi đội giầy, tôi lết đi bằng đội dép Nhật, chống gậy đi theo xe tang.
Cuộc trở về thảm nảo, tôi khóc vùi bên quan tài của cha.
Tôi cương quyết ở lại Sài Gòn với mẹ và em, không ra Vũng Tàu
nữa. Tôi bị coi là đứa cứng đầu. Xẩy cha nhờ chú. Tôi còn ông chú
thứ tư ở Sài Gòn. Ông này như ông bác thứ hai của tôi hết lòng vì em
vì cháu. Sự thật tôi được nhờ ông rèn cặp như chính các con của
ông, nên những năm đầu của trung học dù phải học lại lấy căn bản
nhưng cũng khá ra, không giỏi lắm, nhưng không đến nỗi dốt nát.
tôi luôn đứng đầu môn văn trong lớp, nhưng môn toán lại kém. Điều
mà chú tôi, một người khoa học không thích tí nào. Sau thời gian đi
chơi loanh quanh, tôi lo lắng biến thành sợ hãi. Tự đánh giá việc viết
văn của tôi là có tội, đại tội với chú. Sự trừng phạt không thể khác.
Tôi nghĩ đến cái chổi lông gà rung lên trên tay chú mà toát mồ hôi.
Tôi cầu cứu sự " cứu rỗi " ở đâu bây giờ ? Ở linh hồn bố tôi ? Mả của
ông ở dưới nghĩa địa Đô Thành. Tôi đạp xe xuống tuốt cuối đường Lê
Văn Duyệt, trước trại lính nhảy dù Nguyễn Trung Hiếu, ngồi trước
mồ cha tôi khấn khứa ông phù hộ cho tôi " tai qua nạn khỏi ". Tấm
tức khóc, khóc vì sợ hãi trận đòn đau, sẽ không tránh khỏi. Dù tôi
biết chú tôi trừng phạt vì thương không phải vì căm thù hoặc để thoả
lòng độc ác. Trời về chiều tôi mới ra về.
Tôi mồ côi cha, tuy còn mẹ, nhưng mẹ tôi phải lo buôn bán để
nuôi các em nhỏ của tôi. Tôi phải sống nhờ, học nhờ ngay nhà chú
ruột. Chú tôi là người học thức, chú có địa vị cao trong xã hội,
thương yêu cháu như những đứa con ruột của ông, nhưng ông vô
cùng nghiêm khắc, nhất là chuyện học hành.
Tôi đâm hoảng khi nghĩ đến chú, đôi mắt loang loáng sau cặp
kính trắng. Chếc chổi lông gà rung rung trong tay chú. Sau bữa cơm
chiều, anh em tôi nghỉ chơi một lát rồi ngồi vào bàn học. Ông chú tôi
thường xuyên xem bài vở chúng tôi và sẵn sàng chỉ dẫn cặn kẽ, ông
gầm thét như cọp khi thấy anh em tôi dốt nát, hoặc trong sổ điểm có
môn nào kém cỏi. Môn toán, tôi kém nhất. Ông nhìn vào môn văn,
dù rằng tôi luôn luôn vào hạng cao, nhưng ông chẳng có một lời
khen nào, mà chỉ nghe ông hừ hừ trong cổ họng. Ông lạnh lùng nói :
- Mày kém toán lắm, mày phải luyện cho giỏi, mấy bài toán đại số
tao ra mày đã làm xong chưa ?
Chú thường nhắc nhở với anh em chúng tôi như thế ! Chú yêu
thương chúng tôi, nhưng yêu thương theo kiểu của chú, tôi hiểu thế.
nhưng còn điều gì xảy ra cho tôi hôm nay, tôi biết rõ vào buổi chiều.
Tôi cho là một buổi chiều ảm đạm trong đời tôi, có lẽ là một
khúc quanh. Tôi không thể oán trách chú được. Tôi cố hiểu trong
vầng trán rộng của chú tôi hơi nhăn lại suy nghĩ gì, có lẽ không bình
thường như mọi khi, lúc trừng phạt con cháu lười biếng học hành.
Qua mắt tôi nhìn, ông là môt nhà khoa học, trong đầu ông chứa
toàn những bài toán rắc rối, mà tôi có học đến bạc đầu cũng không
giải nổi đáp số, nói chi đến những bài đại số, hình học tầm thường
tôi phải làm và học mỗi ngày.
Ông chú có cái lý của ông, lý của đấng làm cha mẹ, hoặc phải
thay cha mẹ lo cho tương lai máu mủ của mình. Quyền huynh thế
phụ, chú thay cha.
CHƯƠNG 2
Tôi nằm sấp trên đi văng, đầu ngóc lên như con thằn lằn. Xung
quanh tôi, đám con ông chú nhìn tôi bằng ánh mắt hãi sợ.
Tờ báo có bài tuỳ bút của tôi ký tên thật nằm ngay trước mặt và
chú tôi thì cầm chổi lông gà cán mây, đôi mắt ông lấp lánh sau cặp
kính trắng. Ông nổi giận, cơn giận có thể khủng khiếp lắm, nhưng
ông cố kìm lại bằng tiếng thở dài tuyệt vọng, ông khẽ lắc đầu :
- Long, con có nghe chú nói không ?
- Dạ, con nghe chú nói.
- Bố con chết được mấy năm rồi ?
- Dạ, thưa ba năm.
Giọng ông chú trở nên buồn bã:
- Bố con trước đây là một họa sĩ xuất thân từ Beaux Art ( Cao
Đẳng Mỹ Thuật ) Đông Dương ra có bằng cấp đàng hoàng mà suốt
đời chẳng làm nên trò trống gì. Sống nghèo rớt mùng tơi cho đến lúc
chết. Bố con kỳ vọng ở con rất nhiều, gửi con cho chú, hy vọng con
sẽ học hành đến nơi đến chốn, có bằng cấp làm nên ông nọ ông kia,
ngờ đâu con lại xao lãng việc học hành mơ làm văn sĩ, con chọn sai
đường rồi....
Giọng ông hằn học nhưng không kém phần buồn bã:
- Làm văn sĩ không phải là chuyện gì xấu xa, chú khẳng định như
vậy, nhưng đời nghệ sĩ khốn khổ lắm con ơi, nhất là nghệ sĩ ở đất
nước mình, mang cái nghiệp đó vào thân rồi khổ cả một đời đấy con
ạ. Con không thấy bao nhiêu văn nghệ sĩ ở đất nước mình than thân
trách phận đó sao: Anh thì than đói, than nghèo, than khổ, nợ nần
ngập đầu, rõ ràng là họ đã viết thành văn, làm thơ.....
Tôi ngạc nhiên vì thấy chú tôi đọc ra mấy câu thơ dẫn chứng cho
lối nói của ông. Hình như mấy câu thơ của Nguyễn Vỹ. Giọng chú tôi
như muốn gầm lên:
- Đấy nhé, chính mấy anh làm thơ viết văn nói ra để " khuyên đời
", răn đe những kẻ lăm le đi theo con đường ấy, chú không dặt điều
nói bậy. Chú khuyên vậy nhưng vẫn chưa thể ngấm vào da thịt con
được đâu. Chú cần phải cho con thấm hơn, thấm đến tận đầu, xương
tuỷ và nhớ đến già. Con xứng đáng nhận mười cái chổi lông gà....
Tôi kinh hoàng, nhưng biết làm sao được, đành nhắm mắt
nghiến răng chịu trận tỏ ra can đảm không khóc để giữ " sĩ khí " của
kẻ cầm bút. Cái chổi vun vút phết vào mông đít tôi bỏng rát, quả là
thấm đến tận tâm gan, tì, phế. Khi đó tôi chỉ mơ ước cái mông đít
của tôi bỗng dưng biến thành mo cau. Tôi không hét lên, nhưng nhất
định không van xin để bớt đòn.
Thằng Hiền, thằng em láu cá con chú, vô công rỗi nghề ngoác
miệng đếm từng roi, thỉnh thoảng nó còn đếm lộn. Con bé Hạnh giận
lên đùng đùng như chính nó bị ăn roi.
Trận mưa roi đã qua, tôi đau quắn đít mà không khóc được,
nhưng con bé Hạnh thì khóc nức nở đi " cứu thương " bằng cách đề
nghị xát muối ớt vào những vết thương " văn nghệ " của tôi lằn lên
như con lươn.
Cuối cùng ông chú nghiêm khắc của tôi cũng phải phì cười. Tôi
cuống cuồng van xin con bé Hạnh đừng cứu vớt " thể xác đớn đau "
của tôi cái kiểu đó.
Thằng Đức nhảy tưng tưng như mọi da đỏ, đếm:
- Mơ làm văn sĩ này....một, ái da đau. Mơ làm văn sĩ này....hai. Ối
chu choa. Mơ làm văn sĩ này....ba. Trời đất ơi....
Cứ thế nó đếm tới mười, cho đến lúc cả bọn bị chú nạt lên mới
chịu im
Buổi tối hôm ấy đến giờ học bài, chú tôi kiểm soát bài vở chặt
chẽ của tôi và chú đã khám phá ra khá nhiều bài thơ tôi chép vào sau
cuốn vở toán. Ông lắc đầu ngao ngán:
- " Thi văn đoàn Lãng Bạc " của mày không biết là cái quái gì.
Mày đáng được hưởng thêm mười cái chổi lông gà nữa rồi con Hạnh
sát muối ớt vào đít. Làm toán đi, mày phải làm xong mấy bài toán đại
số này không thì chết đòn, suốt ngày mơ mơ mộng mộng, nút mắt ra
đã làm thơ tình ái, nguy hiểm đáng báo động.
Một sự thật hết chối cãi, cái tên thật của tôi làm sao giấu chú
được. Phần thì đớn đau mông đít, phần thì tủi thân vì bị " đàn áp ".
Tôi ra vườn một mình ngồi " sầu thế sự ".
Dưới bóng lá cây chấp chới trên đầu, tôi ngước lên ước ao nhìn
thấy một ngôi sao cô đơn. Đêm này thật yên tĩnh, bây giờ tôi mới
khóc được. Nước mắt tôi nhoè nhoẹt, ngôi sao của tôi cũng mờ
đi.....Chỉ còn một ngôi sao cô đơn làm bạn với tôi giữa đêm trường
thanh vắng. Sương đêm xuống nhiều, trời hơi lành lạnh. Có lẽ giờ này
chú tôi đã ngủ yên giấc, đời sống chú tôi rất mực thước và kỷ luật,
chú luôn luôn theo đúng giờ giấc như chiếc đồng hồ treo tường của
chú, kể cả lúc chú chơi văn nghệ giải trí. Đúng sáu giờ chiều chú ôm
cây đàn Mandoline, gảy tưng tưng đúng mười lăm phút, tôi đếm được
3 bản nhạc, có khi chỉ hai bài rưỡi chú ngừng vì đã hết giờ. Sau đó
đọc báo 45 phút. Bảy giờ chiều ăn cơm, nghỉ một lát. Tám giờ tối
chúng tôi vào phòng học. Đến 9 giờ 15 tối tất cả chúng tôi phải đi
ngủ. Sáu giờ sáng tất cả phải dậy ra sân tập thể thao với ông. Bảy giờ
sáng làm vệ sinh cá nhân, ăn điểm tâm rồi đi học.
Trong tủ sách của ông ngoài những sách toán, khoa học, ngoại
ngữ tôi thấy thêm loại sách " học làm người ".
Chỉ riêng ngày hôm nay ông phá lệ " ban " cho tôi một trận đòn
nên thân vì tôi dám mơ ước làm văn sĩ. Cái nghề văn sĩ, thi sĩ qua con
mắt môt người mực thước như ông là một nghề cùn mằn, dở ông dở
thằng, bất mãn đời mới lao vào. Con người đó là con người lung tung
chẳng còn ra làm sao hết, tự hại mình, ăn hoang phá hoại, trác táng
hư hỏng. Mất cả đàng hoàng đứng đắn. Tôi có thể lây cái tính nghệ sĩ
đó sang các con ông không chừng. Tôi biết trong đầu ông nghĩ như
thế. Tôi nguyện sẽ ghi điều này vào nhật ký. Như Anne Frank. Tôi lại
mơ mộng mình viết nhật ký như thế nào cho lâm ly thống thiết.
Nhưng nguồn cảm hứng tôi bị cắt ngang thảm hại, vì không phải chỉ
có mình tôi ngồi trong khu vườn quạnh quẽ đêm hôm khuya khoắt
này.
Tôi nghe tiếng động, tiếng cành cây khô gãy dưới bước chân ai.
Lạy trời, không phải là chú ! Không phải là chú. Con chó lông xù
nhảy chồm lên liếm mặt tôi lia lịa. Con chó Lu tất nhiên có bé Hạnh.
Quả nhiên cái bóng của nó ló ra ngay sau đó. giọng con bé đầy ngậm
ngùi:
- Ba đánh anh Long đau lắm hả ?
Tôi nổi cáu:
- Vớ vẩn, kệ tao, ông ấy mà biết lại khốn khổ cho mày thôi, vào
nhà ngủ đi.
Giọng con bé Hạnh thì thào:
- Ba không biết đâu, ngủ rồi, mà anh có đau không ?
Tôi bực mình vì con bé Hạnh lẩn thẩn:
- Bị đánh mà không đau sao cho được, thân xác người ta chứ có
phải.......
Con Lu vẫn chồm lên liếm mặt tôi, rít lên những tiếng thật dễ
thương. Bé Hạnh mau mắn:
- Em có mang thuốc ra cho anh, để em xức thuốc cho anh.
Tôi giật nẩy mình, giọng thảng thốt:
- Thuốc gì vậy?
- Muối ớt, có trộn thêm tiêu nữa.
Tôi la lên:
- Vậy thì chết tao rồi, mày có cho thêm hành tỏi dấm chua nữa
không, như nước mắm cơm tấm bì.
Trong ánh sáng mờ mờ của sao đêm, tôi cũng nhận thấy mặt cô
bé nghệt ra vì ngây thơ vô tội, không hiểu gì hết.
- Chưa có thêm hành tỏi dấm, em vào bếp lấy thêm.
Đang buồn tôi cũng bật phì cười, chắp tay vái cô em gái lia lịa:
- Tao van mày, tao lạy mầy trăm lạy, mày cứu thương kiểu đó
bằng g...
 





